phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu theo 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết các nhân tố ảnh hƣởng đến quyết định lựa chọn dịch vụ kế toán của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 4: Kết luận và kiến nghị e 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN DỊCH VỤ KẾ TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ KẾ TOÁN 1. Khái niệm, đặc tính của dịch vụ Theo Gronroos (1990), dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tƣơng tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ, nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng. Theo Zeithaml và Bitner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm hài lòng nhu cầu và mong đợi của khách hàng.
Theo Kotler and Amstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Bản chất của dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. Dịch vụ diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bƣớc khác nhau, có thể phát sinh nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm. Dịch vụ gắn liền với những tiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà khách hàng nhận đƣợc sau khi sử dụng dịch vụ.
Tóm lại, dịch vụ là một quá trình diễn ra sự tƣơng tác giữa nhà cung cấp và khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo cách mà khách hàng mong muốn cũng nhƣ việc tạo ra giá trị cho khách hàng. Dịch vụ là sản phẩm đặc biệt, khác với sản phẩm hàng hóa thông thƣờng e 9 khác bởi các đặc tính sau: tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất, tính không thể cất giữ, tính không thể chuyển quyền sở hữu đƣợc. – Tính vô hình: Đƣợc thể hiện ở chỗ ngƣời ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận đƣợc các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ. – Tính không thể tách rời: Dịch vụ thƣờng đƣợc cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thƣờng phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
– Tính không đồng nhất: Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá đƣợc chất lƣợng của dịch vụ. – Tính không thể cất trữ: Là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhƣng họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó đƣợc cung cấp.
– Tính không chuyển quyền sở hữu đƣợc: Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ đƣợc quyền sử dụng dịch vụ, đƣợc hƣởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định. Dịch vụ kế toán 1. Các khái niệm liên quan đến dịch vụ kế toán Theo Libby & cs (2003), “Kế toán là một hệ thống thông tin cho phép thu thập và truyền đạt thông tin mà chủ yếu là những thông tin mang bản chất tài chính thƣờng đƣợc số hoá dƣới hình thức giá trị về các hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp và các tổ chức. Những thông tin này đƣợc cung cấp nhằm giúp những ngƣời quan tâm trong quá trình ra các quyết định kinh tế mà chủ yếu các quyết định này liên quan đến việc phân bổ nguồn lực”.
Theo Neddles & cs (2003), Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ vào năm 1941 định nghĩa kế toán nhƣ sau: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại e 10 và tổng hợp một cách có ý nghĩa và dƣới hình thức bằng tiền các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, các sự kiện mà ít nhiều có liên quan đến tài chính, và giải trình kết quả của việc ghi chép này”. Theo Luật kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 thì “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dƣới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Hành nghề kế toán là hoạt động cung cấp dịch vụ kế toán của doanh nghiệp hoặc cá nhân có đủ tiêu chuẩn, điều kiện thực hiện dịch vụ kế toán”. Theo Khoản 13, Điều 3, Luật kế toán 2015 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 thì “Kinh doanh dịch vụ kế toán là việc cung cấp dịch vụ làm kế toán, làm kế toán trƣởng, lập báo cáo tài chính, tƣ vấn kế toán và các công việc khác thuộc nội dung công tác kế toán theo quy định của Luật này cho các cá nhân, tổ chức có nhu cầu”.
Hoạt động kế toán thực tế trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay nảy sinh các nhu cầu về tập hợp chứng từ, xử lý chứng từ kế toán và ghi chép sổ sách kế toán; soát xét và hoàn thiện chứng từ, sổ sách và lập báo cáo kế toán; đánh giá mức độ trung thực, khách quan của các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán của một chủ thể nhất định phục vụ mục đích nộp thuế, tham gia liên doanh, liên kết, hợp đồng hợp tác kinh doanh, ; tƣ vấn đối với tổ chức và vận hành bộ máy kế toán (trực tiếp hoặc gián tiếp) của một chủ thể nhất định sao cho có hiệu quả cao nhất, phù hợp với quy định của pháp luật; tƣ vấn các quyết định kinh doanh dựa trên thông tin, tài liệu kế toán; cung cấp và tƣ vấn sử dụng phần mềm kế toán; tuyển dụng và đào tạo kế toán viên, kế toán trƣởng cho các chủ thể doanh nghiệp, vv. Các hoạt động đáp ứng nhu cầu trên là các loại dịch vụ có liên quan đến các hoạt động kế toán hay còn gọi là dịch vụ kế toán (DVKT). e 11 DVKT là một hoạt động dịch vụ làm kế toán mang tính chuyên nghiệp và trách nhiệm cao với xã hội, tƣ vấn các vấn đề liên quan đến kế toán cho doanh nghiệp. DVKT phải do các cá nhân và doanh nghiệp cung cấp và phải thành lập, hoạt động hành nghề theo quy định của pháp luật.
Các sản phẩm của dịch vụ kế toán Theo Điều 55, Luật kế toán 2015 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017 quy định, tổ chức và cá nhân có đăng ký kinh doanh DVKT đƣợc thực hiện các DVKT sau: - Làm kế toán. - Làm kế toán trƣởng. - Thiết lập hệ thống kế toán cụ thể cho đơn vị kế toán. - Cung cấp và tƣ vấn áp dụng công nghệ thông tin về kế toán.
- Bồi dƣỡng nghiệp vụ kế toán, cập nhật kiến thức kế toán. - Tƣ vấn tài chính. - Kê khai thuế. - Các dịch vụ khác về kế toán theo quy định của pháp luật.
Theo cách phân loại sản phẩm của tổ chức Liên hợp quốc “Provisional Central Product Classification” thì cung cấp dịch vụ kế toán bao gồm: Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính; Dịch vụ lập báo cáo tài chính và các dịch vụ kế toán khác v.v, cụ thể là: - Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính: Là dịch vụ soát xét các báo cáo tài chính hàng năm, hàng kỳ và các thông tin kế toán khác, phạm vi soát xét nhỏ hơn kiểm toán, do đó mức độ tin cậy, tính pháp lý cũng thấp hơn. - Dịch vụ lập báo cáo tài chính: Là việc lập báo cáo tài chính từ các thông tin khách hàng cung cấp. Nhà cung cấp dịch vụ không chứng nhận tính chính xác của các báo cáo tài chính đƣợc biên soạn. Nếu hợp đồng dịch vụ soạn lập báo cáo tài chính bao gồm cả phần soạn lập các các tờ khai thuế thì e 12 dịch vụ kê khai thuế cũng đƣợc coi là một phần của dịch vụ soạn lập báo cáo tài chính.
- Dịch vụ ghi sổ kế toán: Là loại dịch vụ bao gồm hoạt động phân loại, ghi chép các giao dịch kinh doanh theo đơn vị tiền tệ hoặc các đơn vị đo lƣờng khác vào sổ kế toán. - Các dịch vụ kế toán khác: chứng nhận, đánh giá, lập các báo cáo không chính thức. Trên thị trƣờng hiện nay, các cá nhân và doanh nghiệp thƣờng cung cấp các DVKT sau: - Ghi chép sổ sách kế toán và lập báo cáo tài chính; kê khai và quyết toán các loại thuế phát sinh; tính lƣơng, đăng lý lao động và các thủ tục về bảo hiểm xã hội: các dịch vụ này đƣợc thực hiện liên tục, định kỳ, không cần chuyên môn sâu nhƣng cần tính chính xác, tuân thủ và không đòi hỏi chịu trách nhiệm ký báo cáo. - Dịch vụ kế toán trƣởng trên báo cáo tài chính, ký đại lý thuế trên tờ khai và quyết toán thuế: các dịch vụ này đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, định kỳ, đòi hỏi các công ty cung cấp dịch vụ phải chịu trách nhiệm cao đối với sản phẩm của mình.
- Dịch vụ tƣ vấn kế toán, thuế, tài chính, nhân sự, soát xét báo cáo tài chính : các dịch vụ này không phát sinh định kỳ nhƣng cũng mang lại doanh thu cao cho các công ty cung cấp dịch vụ. Nhiệm vụ của kế toán Theo Điều 4, Luật kế toán 2015 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 20/11/2015 và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2017, có thể thấy các nhiệm vụ cơ bản của kế toán là: - Thu thập, xử lý thông tin và số liệu kế toán theo đối tƣợng, nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực, chế độ kế toán. e 13 - Kiểm tra và giám sát các khoản thu chi tài chính, các nghĩa vụ thu nộp và thanh toán nợ. Kiểm tra việc quản lý cũng nhƣ sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản để từ đó phát hiện, ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính và kế toán.
- Ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tƣ, tiền vốn; quá trình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) và tình hình sử dụng kinh phí (nếu có) của đơn vị.