Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu + Tính cấp thiết đề tài + Mục tiêu nghiên cứu + Câu hỏi nghiên cứu + Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu + Phƣơng pháp nghiên cứu + Kết quả nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước: + Khái niệm lợi nhuận ngân hàng + Các yếu tố tác động lợi nhuận ngân hàng + Các nghiên cứu nƣớc ngoài + Các nghiên cứu trƣớc Chương 3: Mô hình nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu: 7 + Mô hình nghiên cứu + Ƣớc lƣợng dấu + Giả thiết nghiên cứu + Phƣơng pháp nghiên cứu + Quy trình nghiên cứu + Dữ liệu nghiên cứu + Công cụ nghiên cứu Chương 4 Kết quả nghiên cứu và nhận định về kết quả: + Chạy loại bỏ giá trị ngoại lai + Thống kê mô tả + Kiểm tra đa cộng tuyến + Kết quả hồi quy Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp: + Nhận xét, khuyến nghị , hạn chế 8 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 Thông qua chƣơng 1 Tác giả đã làm nổi bật nghiên cứu lần này, thực trạng hiện tại và nêu rõ tầm quan trọng tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Từ các luận án trên kết quả nghiên cứu trong bài sẽ lần lƣợt giải đáp 3 câu hỏi nghiên cứu đƣợc đặt ra. Tiếp theo đó dữ liệu của đề tài lần này trình bày đối tƣợng nghiên cứu là 20 Ngân hàng thƣơng mại cổ phần đang hoạt động tại Việt Nam từ năm 2011 đến hết năm 2021. Bài nghiên cứu sử dụng hai phƣơng pháp nghiên cứu là định tính và định lƣợng, Cuối cùng, chƣơng này sẽ trình bày cấu trúc của luận án gồm 5 chƣơng và phần có cả phần tóm tắt nội dung chính của từng chƣơng.
9 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU Chương 2 của khóa luận sẽ tập trung làm rõ cơ sở lý thuyết của vấn đề cần nghiên cứu lần này, để có thể làm rõ về vấn đề nghiên cứu sẽ tiến hành khảo lược qua một số đề tài đã có trước đây kể cả trong nước lẫn nước ngoài để xác định các yếu tố gây ảnh hưởng đến lợi nhuận của Ngân hàng thương mại tại Việt Nam.1 Khái niệm về lợi nhuận của Ngân hàng: Lợi nhuận là một trong những yếu tố quan trọng nhất khi đánh giá sức khỏe của một tổ chức nói chung và Ngân hàng nói riêng, việc kinh doanh mang lại nhiều giá trị về mặt lợi nhuận luôn là điều mà các nhà quản trị vận hành, nhà hoạch định chính sách sản phẩm luôn luôn hƣớng đến. Để biết một Ngân hàng có hoạt động hiệu quả hay không thì tiêu chí lợi nhuận luôn là tiêu chí quan trọng nhất khi xem xét về hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Hiện nay, số lƣợng Ngân hàng TMCP tại Việt Nam đang ở mức hơn 20 Ngân hàng, do đó khả năng cạnh tranh cùng ngành là vô cùng lớn, do đó các Ngân hàng luôn phải cải thiện các chính sách, sản phẩm để cạnh tranh với các đối thủ còn lại. Lợi nhuận có sức ảnh hƣởng tƣơng đối lớn đến nhiều hoạt động kinh doanh và năng lực tài chính của Ngân hàng.
Khi một Ngân hàng đạt hiệu quả lợi nhuận cao cho thấy nó có khả năng giảm thiểu các rủi ro về tín dụng, đảm bảo tính thanh khoản, đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo đúng nhƣ quy định. Hơn thế nữa, lợi nhuận còn là động lực to lớn của phần lớn các tổ chức hoạt động kinh tế vì một tổ chức đạt hiệu quả cao trong hiệu quả sinh lời sẽ có nhiều đãi ngộ cho cán bộ nhân viên của hệ thống đó tốt hơn, có thể thấy tiềm lực và sự nỗ lực của mỗi nhân viên trong Ngân hàng sẽ đều lấy việc lợi ích cao làm bàn đà từ đó giúp cho các Ngân hàng có khả năng gia tăng lợi nhuận từ những tiềm lực nội tại đó. Một điều dễ dàng thấy đƣợc đối với thị hiếu chung của ngƣời sử dụng dịch vụ Ngân hàng cung cấp hiện nay, sẽ luôn ƣu tiên sử dụng các Ngân hàng có mức độ uy tín cao, quy mô lớn điều đó vô hình chung làm gia tăng sự uy tín cho Khách hàng, thực trạng dễ thấy 10 con ngƣời luôn muốn chọn một nơi phát triển tốt để gửi gắm, chứ không ai muốn sử dụng một dịch vụ của Ngân hàng đang có xu hƣớng đi xuống. Lợi nhuận của Ngân hàng tập trung chủ yếu vào các hoạt động tín dụng và phi tín dụng, trong đó các doanh thu từ lãi là mục tiêu chính mà các Ngân hàng đang đẩy mạnh tập trung phát triển do đó các chính sách ƣu đãi về các gói lãi suất và các tiện ích về gói sản phẩm luôn đƣợc cải tiến mỗi ngày sao cho đủ khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng, cụ thể doanh thu từ lãi sẽ đến từ hoạt động cho vay, chiết khấu, L/C từ đó mà thu nhập sinh ra từ việc chênh lệch giá vốn giữa lãi tiền gửi, lãi tiền vay.
Tín dụng bao gồm nhiều hình thức cho vay: các khoản vay ngắn hạn (dƣới 1 năm) các khoản vay ngắn hạn thông thƣờng sẽ tập trung vào việc tài trợ nguồn vốn cho các Khách hàng mua vật tƣ, nguyên vật liệu và các hàng hóa liên quan để khi nhập về Khách hàng sẽ tiến hành giá công, sản xuất và tạo ra sản phẩm để cung ứng. Khoản vay Trung và dài hạn (1 đến 5 năm) thông thƣờng sẽ là các phƣơng án tài trợ mua xe, các máy móc thiết bị, đầu tƣ nhà xƣởng, các nhà máy xí nghiệp. Thu ngoài lãi bao gồm các khoản thu về phí, bảo lãnh các sản phẩm phi tín dụng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với các khoản tín dụng, các sản phẩm cung ứng nhƣ bảo lãnh và thanh toán quốc tế thông thƣờng TTR là các sản phẩm phi tín dụng mà các Ngân hàng đang tập trung khai thác. (2014) Tác giả bài nghiên cứu các yếu tố tác động đến lợi nhuận của Ngân hàng tại nƣớc Anh, theo Ông phát biểu “ ROA, ROE là các yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá đo lƣờng lợi nhuận của một tổ chức hoặc một Ngân hàng, ROA phản ánh trên mỗi đồng tài sản có thể sản sinh ra bao nhiêu lợi nhuận” việc quản lí tốt nguồn tài sản sẽ giúp chuyển hóa chúng thành thu nhập, thông thƣờng khi các nghiên cứu muốn tìm hiểu về tác động của các vấn đề xoay quanh đến lợi nhuận các Tác giả thƣờng sử dụng hai tiêu chí chính là ROA và ROE, hai chỉ tiêu trên có tỷ lệ càng cao cho thấy Ngân hàng đang sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên từ tài sản và vốn chủ sở hữu.2 Các yếu tố tác động đến lợi nhuận của Ngân hàng: 11 Nhƣ chúng ta đƣợc biết Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính có vai trò luân chuyển vốn từ những ngƣời thừa vốn và đƣa nguồn vốn đó đến những ngƣời thiếu vốn, có nhu cầu về vốn để vay mƣợn phục vụ cho nhu cầu của họ, từ đó mà Ngân hàng thu đƣợc phần chênh lệch lãi suất giữa ngƣời gửi và ngƣời mƣợn.
Để việc phát triển lợi nhuận đƣợc diễn ra các Ngân hàng luôn phải đặt nặng vấn đề cạnh tranh lên hàng đầu, dễ thấy nhất là các sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng là một trong những sản phẩm có mức độ thay đổi và đa dạng nhất hiện nay, điển hình nhất là sự ứng dụng của các công nghệ kỹ thuật vào các sản phẩm của Ngân hàng giúp cho việc giao dịch truyền thống nhƣ rút tiền, gửi tiền và chuyển tiền đã không còn là trở ngại cho những ngƣời tiêu dùng, theo Tạp Chí của Ngân hàng Nhà Nƣớc có nói đƣa tin " Trong vòng một thập kỷ trở lại đây, hệ thống ngân hàng đã chứng kiến những thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ chƣa từng thấy. Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính 2007 - 2008 và suy thoái kinh tế toàn cầu đã đặt hệ thống ngân hàng đứng trƣớc những thách thức lớn về quản trị rủi ro, đòi hỏi đánh giá lại tính hiệu quả của các mô hình kinh doanh cũng nhƣ cấu trúc lại các nguồn thu nhập để đảm bảo tính an toàn và bền vững. Điều này đã dẫn tới những thay đổi sâu sắc từ phƣơng thức hoạt động cho đến cấu trúc tổ chức bên trong ngân hàng. Tiếp ngay sau đó, những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ cũng đã nhanh chóng lan rộng.
Việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới nhƣ dữ liệu lớn, trí thông minh nhân tạo, internet của vạn vật… đã đƣợc triển khai ở hầu hết các bộ phận của ngân hàng. Từ đó, làm thay đổi diện mạo ngân hàng với rất nhiều các mô hình ngân hàng mới đã ra đời nhƣ ngân hàng số, ngân hàng không chi nhánh, các dịch vụ ngân hàng trực tuyến internet banking, mobile banking… Những xu hƣớng này một lần nữa lại đòi hỏi các ngân hàng cần xem xét và thay đổi mô hình kinh doanh thích hợp, từ xác định nhóm khách hàng mục tiêu cho đến cấu trúc lại sản phẩm dịch vụ và thiết kế hệ thống kênh bán hàng định hƣớng khách hàng” có thể thấy qua cách nhìn nhận về thực trạng Ngân hàng trên là vô cùng chính xác có thể thấy rõ thông qua các hoạt động hằng ngày nhƣ chuyển tiền cho ngƣời khác hiện nay, ngƣời tiêu dùng không cần phải ra Ngân hàng chen lấn xếp hàng để viết 12 các ủy nhiệm chi chuyển tiền nữa mà thay vào đó là sử dụng chuyển tiền trực tuyến thông qua các ứng dụng của các Ngân hàng phát triển vô cùng tiện lợi. Hơn thế nữa cũng theo Tạp Chí Ngân hàng năm 2020 “Mô hình ngân hàng số (hoàn toàn) và ngân hàng chuyển đổi số: Việc ứng dụng các công nghệ mới đã cho phép các ngân hàng có thể thay đổi hoàn toàn cách thức cung cấp dịch vụ từ hệ thống hữu hình truyền thống sang môi trƣờng số. Các mô hình ngân hàng không chi nhánh, ngân hàng không giấy đã ra đời cho phép khách hàng thực hiện mọi giao dịch ngân hàng thông qua các thiết bị số có kết nối mạng internet mà không cần dịch chuyển đến các chi nhánh của ngân hàng.
Hệ thống chứng từ điện tử cũng cho phép khách hàng có thể thực hiện mọi giao dịch mà không cần tới các loại giấy tờ truyền thống, thông qua đó, rút ngắn thời gian cũng nhƣ chi phí giao dịch. Mặc dù vậy, mô hình ngân hàng số hoàn toàn không quá phổ biến.