phần mở đầu và kết luận, kết cấu của khóa luận gồm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1 Tổng quan về Hiệp ƣớc Basel và những nội dung cơ bản trong quản trị rủi ro Chƣơng 2 Thực trạng quản trị rủi ro tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2010 và sự cần thiết của việc áp dụng Basel II vào Eximbank Chƣơng 3 Giải pháp ứng dụng Basel II trong quản trị rủi ro tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam SVTH: Cao Minh Thuận 3 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HIỆP ƢỚC BASEL VÀ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG QUẢN TRỊ RỦI RO 1.1 Những nội dung cơ bản về quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng thƣơng mại 1.1 Tổng quan rủi ro trong kinh doanh tại ngân hàng 1.1 Nhận diện những nhân tố tạo rủi ro trong kinh doanh tại ngân hàng Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một trạng thái bất ổn, là khả năng mà tại đó tỷ suất sinh lợi thực tế khác biệt so với tỷ suất sinh lợi mong đợi. Chỉ có những trạng thái không chắc chắn nào có thể ƣớc đoán đƣợc xác suất xảy ra mới đƣợc xem là rủi ro. Trần Huy Hoàng – 2010.) Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra, các rủi ro này sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến. Trong bất kỳ giai đoạn kinh tế nào thì việc đối mặt với các rủi ro của các ngân hàng là điều không tránh khỏi.
Trong hoạt động của các NHTM, thƣờng phát sinh những rủi ro sau: rủi ro tín dụng, lãi suất, tỷ giá, thanh khoản, pháp lý, tác nghiệp và rủi ro khác1 .2 Ảnh hưởng của rủi ro trong kinh doanh tại các ngân hàng thương mại Cũng nhƣ mọi doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro và có thể bị mất vốn. Nhƣng do kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, nên rủi ro trong kinh doanh ngân hàng không chỉ ảnh hƣởng đến bản thân NHTM mà còn gây tác động xấu đến nền kinh tế xã hội. Cụ thể: Rủi ro xảy ra tạo cho ngân hàng những tổn thất về mặt tài chính Bất kỳ một rủi ro nào xảy ra cũng gây ra những tổn thất về tài chính cho ngân hàng: hoặc làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng. Nếu thu không đủ chi ngân hàng sẽ bị thua lỗ, nghiêm trọng hơn ngân hàng có thể bị phá sản.
Rủi ro và tổn thất tài chính là điều khó tránh khỏi trong việc tìm kiếm lợi nhuận, hoạt động nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao thì có thể xảy ra rủi ro lớn. Điều đó 1 Các loại rủi ro thƣờng gặp trong ngân hàng thƣơng mại (phụ lục 1) SVTH: Cao Minh Thuận 4 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên đặt ra cho các ngân hàng là phải cân nhắc lựa chọn phƣơng án kinh doanh nhằm đạt đƣợc sự cân bằng hợp lý giữa lợi nhuận với rủi ro tổn thất. Rủi ro xảy ra làm giảm uy tín của ngân hàng Những thiệt hai về uy tín của ngân hàng, làm mất lòng tin của công chúng là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất về mặt tài chính. Các thua lỗ trong hoạt động của ngân hàng luôn có ảnh hƣởng bất lợi đến niềm tin của công chúng.
Khi dân chúng thiếu tin tƣởng vào khả năng ngân hàng, dẫn đến việc đổ bể tài chính hoặc phá sản của ngân hàng. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng gây tác động xấu đến kinh tế xã hội Thua lỗ của ngân hàng nếu nghiêm trọng có thể làm cổ đông mất vốn đầu tƣ, những ngƣời gửi tiền mất đi khoản tiền tiết kiệm mà suốt đời mới có đƣợc. Tình trạng tài chính xấu của một ngân hàng còn tạo ra sự nghi ngờ của những ngƣời gủi tiền về sự ổn định và khả năng thanh toán của cả hệ thống ngân hàng, gây tác động xấu đến tình hình tài chính của các ngân hàng khác, kéo theo phản ứng dây chuyền và phá vỡ tính ổn định của thị trƣờng tài chính.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro, các mô hình lƣợng hóa và đánh giá rủi ro 1.1 Quản trị rủi ro trong kinh doanh tại ngân hàng Trong nền kinh tế thị trƣờng, bất kỳ một công việc kinh doanh nào nhằm vào tối đa hóa lợi ích cũng phải quản trị rủi ro. Mặt khác, đặc thù của các ngân hàng khác hơn so với các doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh doanh, nhƣ những thông tin tài chính không hoàn hảo khiến cho việc đánh giá và xếp hạng rủi ro trở nên khó khăn hơn.
Ngoài ra sự đa dạng về đối tƣợng khách hàng cũng nhƣ mức độ rủi ro của từng ngƣời là khác nhau càng làm cho việc quản trị trở nên khó khăn hơn. Do đó, việc đƣa ra các quy định cụ thể nhƣ thể chế hoạt động, yêu cầu về đảm bảo an toàn về vốn (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, phân loại nợ…) là điều cần thiết trong công tác quản trị ngân hàng. Nếu nhƣ quản trị rủi ro là việc sử dụng các công cụ, biện pháp, quy trình tín dụng để hạn chế đến mức thấp nhất khả năng tổn thất, thì quản trị rủi ro là việc sử dụng các biện pháp để xác định và đo lƣờng mức độ rủi ro cũng nhƣ kiểm soát, hạn chế các loại rủi SVTH: Cao Minh Thuận 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên ro từ đó đƣa ra những giải pháp xử lý rủi ro hiệu quả nhất. Đồng thời xác định mức độ mạo hiểm trong việc sử dụng nguồn vốn của ngân hàng so với vốn tự có của ngân hàng.
Quản trị rủi ro ngân hàng đƣợc dựa vào rất nhiều nguyên tắc khác nhau, trong đó bao gồm 8 nguyên tắc cơ bản: Nguyên tắc chấp nhận rủi ro. Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép. Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt. Nguyên tắc phù hợp giữa mức rủi ro cho phép và mức độ thu nhập.
Nguyên tắc phù hợp giữa mức rủi ro cho phép và khả năng tài chính. Nguyên tắc hiệu quả kinh tế. Nguyên tắc hợp lý về thời gian. Nguyên tắc phù hợp với chiến lƣợc chung của ngân hàng.
Với sự đa dạng của các loại rủi ro và các nguyên tắc quản trị rủi ro. Việc xây dựng các mô hình lƣợng hóa rủi ro thích hợp để định lƣợng rủi ro cho khách hàng là việc rất cần thiết trong các ngân hàng hiện nay, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng nhƣ để trích lập dự phòng rủi ro, và đƣa ra những biện pháp cụ thể nhằm quản trị tốt những rủi ro khác với các mức độ khác nhau. Các mô hình rất đa dạng, bao gồm cả định lƣợng và định tính. Một số mô hình phổ biến sau: mô hình Camels, mô hình điểm số Z, mô hình Var 2: Trong đó, Var là phƣơng pháp đƣợc các NHTM trên thế giới sử dụng nhiều nhất, với 3 phƣơng pháp chính đó là: Phƣơng pháp Delta-gamma: đây là phƣơng pháp ứng dụng Var đơn giản nhất.
Nó giả định rằng rủi ro của danh mục là tuyến tính và các nhân tố rủi ro tuân theo phân phối chuẩn. Bởi vì lợi nhuận của danh mục là sự kết hợp tuyến tính giữa các biến chuẩn, do đó nó tuân theo phân phối chuẩn, với hàm mật độ phân hối theo hình tháp chuông. Tuy nhiên, cũng chính vì giả định mối quan hệ giữa Var và các biến là tuyến tính, do đó phƣơng pháp delta-gamma trở nên kém chính xác hơn so với 2 phƣơng pháp tiếp theo. 2 Các mô hình định lƣợng rủi ro trong ngân hàng (phụ lục 2) SVTH: Cao Minh Thuận 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên Phƣơng pháp mô phỏng lịch sử: là phƣơng pháp định giá đầy đủ.
Nó bao gồm quá trình quay ngƣợc thời gian, ví dụ trong 250 ngày trở lại đây, và áp dụng trọng số trong hiện tại cho lợi nhuận của tài sản đó theo dãy thời gian trong lịch sử. Phƣơng pháp mô phỏng Monte Carlo: phƣơng pháp này tƣơng tự nhƣ mô phỏng lịch sử, ngoại trừ việc: sự thay đổi trong các tác nhân rủi ro đƣợc tạo ra từ các quy luật phân phối khác và đƣợc xây dựng dựa trên phần mềm mô phỏng rủi ro tƣơng thích với từng ngân hàng.2 Hiệp ƣớc Basel về quản trị rủi ro ngân hàng Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision) đƣợc thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ƣơng và cơ quan giám sát của 10 nƣớc phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80. Hiện nay, các thành viên của Ủy ban gồm đại diện ngân hàng trung ƣơng hay cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của các nƣớc: Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ, Luxembourg, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Ý. Ủy ban đƣợc nhóm họp 4 lần trong một năm.
Một mục tiêu quan trọng trong công việc của Ủy ban là thu hẹp khoảng cách giám sát quốc tế trên hai nguyên lý cơ bản là: Không ngân hàng nƣớc ngoài nào đƣợc thành lập mà thoát khỏi sự giám sát. Việc giám sát phải tƣơng xứng. Để đạt đƣợc mục tiêu đề ra, từ năm 1975 đến nay, Ủy ban Basel đã ban hành rất nhiều văn bản, tài liệu liên quan đến vấn đề này. Vào năm 1988, Ủy ban đã quyết định giới thiệu hệ thống đo lƣờng vốn mà nó đƣợc đề cập nhƣ là Hiệp ƣớc vốn Basel (the Basel Capital Accord).
Hệ thống này cung cấp khung đo lƣờng rủi ro tín dụng với tiêu chuẩn vốn tối thiểu 8%. Basel I không chỉ đƣợc phổ biến trong các quốc gia thành viên mà còn đƣợc phổ biến ở hầu hết các nƣớc khác có các ngân hàng hoạt động quốc tế. Đến năm 1996, Basel I đƣợc sửa đổi với rất nhiều điểm mới. Tuy vậy, hiệp ƣớc vẫn có khá nhiều điểm hạn chế.
SVTH: Cao Minh Thuận 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP GVHD: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên 1.1 Hiệp ƣớc Basel I (năm 1998) Mục đích của Basel I: Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng quốc tế. Thiết lập một hệ thống ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng quốc tế.