chương 1 đề cập đến tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHCN tại BIDV – CN Bến Tre. Đồng thời, nội dung chương cũng đề cập đến đối tượng, phạm vi và các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra. Cuối cùng, tác giả đề cập đến một vài đóng góp của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHCN tại BIDV – CN Bến Tre.
Cụ thể, trong chương này, tác giả đề cập đến hoạt động cho vay và cho vay đối với KHCN; khái niệm về khả năng trả nợ. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam được đề cập và phân tích để từ đó, tác giả rút ra những nhân tố phù hợp được đề xuất trong mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: nội dung chương 3 của luận văn được đề cập đến các phương pháp nghiên cứu mà tác giả sẽ sử dụng để phân tích và ước lượng các nhân tố có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHCN tại BIDV – CN 6 Bến Tre. Những phương pháp này sẽ được dùng để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trên cơ sở mô hình nghiên cứu đề xuất ở chương 2, và các phương pháp được đề cập ở chương 3, tác giả sẽ trình bày kết quả nghiên cứu đạt được trong chương 4 về các nhân tố có ý nghĩa thống kê và mối quan hệ giữa những nhân tố này với khả năng trả nợ của KHCN. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: từ những kết quả đạt được ở chương 4, chương 5 sẽ trình bày những kết luận về những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHCN tại BIDV – CN Bến Tre. Từ đó tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao khả năng trả nợ của KHCN. Cuối cùng, những hạn chế và hướng nghiên cứu trong tương lai sẽ được trình bày.7 Đóng góp của đề tài Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại BIDV – chi nhánh Bến Tre, từ đó có những kiến nghị nhằm điều chỉnh các chính sách tín dụng có liên quan nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro cho ngân hàng trong cho vay khách hàng cá nhân, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân tại BIDV – chi nhánh Bến Tre, giúp ngân hàng phát triển bền vững, cũng như nâng cao khả năng trả nợ của các KHCN tại chi nhánh Bến Tre của BIDV.
7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN 2.1 Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân 2.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Đối tượng KHCN bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì vậy cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cho vay mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN hoặc hộ gia đình sử dụng trong một thời hạn nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ SXKD dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Cho vay KHCN là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các khách hàng là cá nhân. Đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thoả thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng.2 Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Đối tượng của cho vay KHCN là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản SXKD của cá nhân hay hộ gia đình đó. Khác với các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế, KHCN thường có số lượng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng thông thường nhu cầu vay vốn của mỗi cá nhân là không thường xuyên và chịu ảnh hưởng lớn bởi môi trường kinh tế, văn hóa – xã hội (Đặng Thị Cẩm Nhung, 2015).
Có thể nói, trong hoạt động cho vay đối với KHCN, các NHTM cần chú ý đến hai vấn đề, đó chính là rủi ro và chi phí. Cho vay KHCN có rủi ro cao bởi vì trong quá trình thẩm định cho vay, ngân hàng có ít thông tin mang tính định lượng để làm cơ sở ra quyết định. Trong khi đó, những yếu tố quan trọng mang tính quyết định đến khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng lại phần nào mang tính định tính và khó xác định, như tư cách của khách hàng, chất lượng của thông tin tài chính. Rủi ro đối với cho vay KHCN: cho vay KHCN có mức độ rủi ro lớn và được coi là tài 8 sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng.
Xuất phát từ bản thân khách hàng vay vốn có thể có sự biến động về tình hình tài chính dẫn đến mất khả năng chi trả hay khi khách hàng cố tình không chịu trả nợ, hoặc do sự biến động về tình trạng sức khoẻ, công việc… Việc thẩm định khả năng trả nợ của các cá nhân hoặc hộ gia đình cũng hết sức khó khăn. Ngoài ra, để có được khoản vay có nhiều khách hàng cố tình che đậy các thông tin về tình hình sức khoẻ và công việc trong tương lai hoặc che giấu các kết quả kinh doanh của các dự án kinh doanh của mình nên các ngân hàng dễ gặp phải rủi ro đạo đức khi cho vay. Do khoản cho vay khách hàng cá nhân có rủi ro cao nhất nên các ngân hàng thường yêu cầu phải có tài sản đảm bảo khi vay và yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm cho hàng hoá đã mua. Thêm vào đó, tín dụng dành cho KHCN có chi phí cao là vì quy mô từng khoản vay không lớn, số tiền cho vay nhỏ trong khi số lượng các khoản vay lại nhiều khiến cho chi phí hành chính, chi phí quản lý tín dụng lớn.
Quy mô khoản cho vay: hầu hết các khoản cho vay KHCN thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay có thể ở mức thấp, trung bình hoặc lớn, do cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu của cá nhân và các hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ, nên quy mô của một khoản vay tương đối nhỏ so với tài sản của ngân hàng, số lượng các khoản vay lại rất lớn do đối tượng của cho vay là các cá nhân và các hộ gia đình với số lượng nhiều và nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng (Đường Thị Thanh Hải, 2014). Theo Thông tư Số 39/2016 của NHNN, mục đích cho vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình (Khoản 4 – Điều 2, Thông tư 39/2016/TT-NHNN). Do đó, nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế cũng như khả năng trả nợ của người đi vay (Ngân hàng nhà nước, 2016). Trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, đời sống các cá nhân và hộ gia đình được cải thiện, thu nhập được cải thiện đáng kể đẩy mạnh sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái người dân thường có xu 9 hướng giảm tiêu dùng, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ ngân hàng. Nhu cầu vay của khách hàng thường nhạy cảm với lãi suất, thông thường người đi vay quan tâm tới số tiền phải thanh toán hơn là lãi suất mà họ phải chịu. Mức thu nhập và trình độ dân trí là hai nhân tố tác động rất lớn đến nhu cầu vay của khách hàng. Lãi suất cho vay: do quy mô của các khoản vay thường nhỏ (trừ những khoản cho vay để mua bất động sản), dẫn đến chi phí để cho vay (về thời gian, nhân lực đi thẩm định, quản lý các khoản cho vay này) cao đồng thời rủi ro của các khoản vay này cũng rất cao.
Do vậy, lãi suất cho vay KHCN thường cao hơn lãi suất các khoản cho vay khác của NHTM (Đường Thị Thanh Hải, 2014; Đặng Thị Cẩm Nhung, 2015). Từ trước đến nay, cho vay KHCN vẫn được các ngân hàng coi là khoản mục mang lại lợi nhuận khá cao với lãi suất thường ít biến động mạnh. Điều đó có nghĩa là khoản thu từ hoạt động tín dụng có khả năng đủ để bù đắp chi phí huy động vốn của ngân hàng, do đó các ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất khi chi phí huy động vốn tăng lên. Tuy nhiên, các khoản vay này thường được định giá rất cao (vì đã bao hàm cả một phần bù rủi ro lãi suất) đến mức mà bản thân lãi suất vay vốn trên thị trường lẫn tỷ lệ tổn thất tín dụng phải tăng lên đáng kể thì hầu hết các khoản cho vay KHCN mới không mang lại lợi nhuận.
Nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân là từ các khoản thu nhập khác nhau, những khoản này có thể thay đổi tuỳ theo tình trạng công việc, sức khoẻ của người đi vay cũng như tình hình sản xuất kinh doanh của họ. Những khách hàng có việc làm, mức thu nhập ổn định, có trình độ học vấn hoặc có phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả là những tiêu chí quan trọng để NHTM quyết định cho vay. Hạn mức cho vay KHCN: là số tiền tối đa mà ngân hàng cho khách hàng vay. hạn mức cho vay KHCN được xác định dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vốn của khách hàng, số vốn tự có của khách hàng, giá trị của TSĐB.2 Các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân 2.1 Khái niệm khả năng trả nợ Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới khi xét về khả năng trả nợ vay, khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân được biểu hiện ở hai góc độ chính là quy mô trả nợ gốc (Số tiền gốc trả nợ được) và thời hạn trả nợ.