CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu trong nước: Theo luận văn của tác giả Trần Mạnh Hà (2012) “Hoàn thiện hệ thống KSNB trong các DN nhỏ và vừa có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương” cho thấy tầm quan trọng trong việc phải hoàn thiện hệ thống KSNB tại các DN vừa và nhỏ có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bình Dương thông qua việc thiết kế bảng câu hỏi dựa trên Báo cáo COSO 1992. Theo luận văn các tác giả Trần Công Chính (2007) “Phát triển hệ thống KSNB tại các doanh nghiệp Việt Nam trên cơ sở quản trị rủi ro DN” chỉ ra mối tương quan của hệ thống KSNB và việc quản trị rủi ro tại các DN Việt Nam bằng phương pháp định tính thông qua việc khảo sát dựa trên bảng câu hỏi được thiết kế gồm 2 phần: ảnh hưởng các thành tố của hệ thống KSNB và quản trị rủi ro. Kết quả cho thấy, có mối tương quan giữa việc phát triển hệ thống KSNB và quản trị rủi ro tại các DN Việt Nam dựa trên Báo cáo COSO 2004. Nguyễn Đình Tùng, 2006.
Một số vấn đề cần chú ý trong quá trình khảo sát thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với kiểm toán ngân sách địa phương, Tạp chí Kiểm toán, tr. 37 – 38: cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ là một vấn đề quan trọng nhằm xác định phương pháp, phạm vi, nội dung kiểm toán để nâng cao chất lượng và hiệu quả kiểm toán. Đề tài cấp bộ “Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ với 20 việc tăng cường quản lý tài chính tại Tổng công ty bưu chính viễn thông” ( PGS.Ngô Trí Tuệ và tập thể tác giả)(2004). Nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty bưu chính viễn thông trên góc độ tiếp cận để phục vụ công tác quản lý tài chính.
Đề tài của Tác giả Trần Thị Minh Thư “Hoàn thiện kiểm soát nội bộ trong các Tổng công ty nhà nước ở Việt Nam” (Luận văn Thạc sỹ năm 2001). Nghiên cứu này có đề cập tới hoàn thiện kiểm soát nội bộ nhưng áp dụng chung cho các Tổng công ty Nhà nước. Nghiên cứu của Tác giả Bùi Duy Hùng (2007) với đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các khách sạn liên doanh do ACCOR quản lý trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh”. Nội dung của nghiên cứu này chủ yếu liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ của lĩnh vực dịch vụ khách sạn.
c 6 Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Bính Ngọ (2011) về “Tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ quốc phòng”. Đề cập tới hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị dự toán trực thuộc Bộ quốc phòng. Luận án tiến sĩ của Tác giả Nguyễn Thu Hoài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam” (2011). Tác giả này đã chỉ ra được khái niệm về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng và đặc biệt là đề cập tới việc kiểm soát trong điều kiện ứng dụng tin học và áp dụng hệ thống quản trị ERP, các thành phần trong hệ thống kiểm soát nội bộ mà tác giả này đưa ra gồm Môi trường kiểm soát, Hệ thống kế toán và thủ tục kiểm soát gắn liền với đặc điểm của doanh nghiệp ngành xi măng và trong điều kiện vận dụng tin học và mối quan hệ với quy trình đánh giá rủi ro.
Tác giả đã tiếp cận về hệ thống kiểm soát trên quan điểm coi hệ thống kiểm soát gắn liền với môi trường tin học. Tuy nhiên, phạm vi khảo sát còn hẹp và các yếu tố về hệ thống kiểm soát nội bộ mà tác giả đưa ra còn chưa đầy đủ, chưa đề cập tới yếu tố về truyền thông và chưa tiếp cận đầy đủ về đánh giá rủi ro để hoàn thiện hệ thống kiểm soát (mặc dù tác giả này có trình bày về mối quan hệ với rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ) Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Minh Hải “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam” (2011). Tác giả này cũng trình bày nghiên cứu về hệ thống 21 kiểm soát nội bộ gắn với ngành dệt may với phạm vi khảo sát rộng, tập trung vào các doanh nghiệp quy mô lớn và đề cập tới các thành phần kiểm soát ở là môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểm soát trên khía cạnh tiếp cận từ quan điểm về quản trị doanh nghiệp. Đặc biệt, tác giả đã đề cập mở rộng hơn yếu tố hệ thống kế toán thành hệ thống thông tin so với các nghiên cứu trước và gắn hệ thống kiểm soát nội bộ với trách nhiệm xã hội 1.2 Các nghiên cứu nước ngoài: Lembi Noorvee, 2006, ‘Evaluation of the efectiveness of internal control over finacial reporting’ – Đánh giá tính hữu hiệu của KSNB trên BCTC.
Lembi Noorvee đã đưa ra bảng khảo sát dựa trên khuôn mẫu lý thuyết của COSO 1992 và từ thực trạng đánh giá hệ thống KSNB tại 3 DN ở Estonia. Kết quả nghiên cứu của ông đã đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu của năm bộ phận cấu c 7 thành nên hệ thống KSNB, đưa ra các kiến nghị để cải thiện hệ thống KSNB cho các công ty khảo sát nói riêng cũng như đưa ra kinh nghiệm để xây dựng hệ thống KSNB ở Estonia nói chung. Evaluation of Internal Control Systems: A Case Study from Uganda. International Research Journal of Finance and Economics - Đánh giá hệ thống KSNB: trường hợp nghiên cứu tại Uganda.
Nghiên cứu Tạp chí quốc tế về Kinh tế Tài chính. Nghiên cứu này tiến hành nghiên cứu các nước thành viên khu vực (RMCs) của Tổ chức Ngân hàng Phát triển Châu Phi (AFDB) tập trung vào Uganda ở Đông Phi.Nghiên cứu này được tiến hành đối với 11 dự án, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, kết hợp phân tích để đánh giá các thành phần của hệ thống KSNB tại Uganda và đưa ra các đề xuất nhằm khắc phục những hạn chế đang tồn tại trong hệ thống. Trong mô hình nghiên cứu của tác giả có đến sáu thành phần của hệ thống KSNB: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát và công nghệ thông tin. Kết quả cho thấy các dự án hầu như ít quan tâm đến thành phần giám sát và tác giả đề nghị nên tăng cường hoạt động này.
Evaluating and improving Internal Control in Organizations, 2012. Published by IFAC (Iternational Federation of Accountants) Bài báo nêu lên vai trò của hệ thống KSNB ; trình bày những tiêu chí để đánh giá và phát triển hệ thống KSNB như giúp tổ chức, đơn vị đạt được mục tiêu ; xác định vai trò của cá nhân tổ chức ; thúc đẩy phát triển văn hóa tổ chức ; đảm bảo năng lực, cách đối phó với rủi ro, truyền thông thường xuyên; giám sát và đánh giá, tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đồng thời đưa ra những hướng dẫn áp dụng những nguyên tắc trên vào tổ chức. Cott Thompson, Demand Media ; 2013.
What happens When the Internal Controls Break Down in a Company ? Chron newspaper #1 in 2013. Bài báo nêu những tác động xấu và ảnh hưởng dây chuyền đến toàn đơn vị khi hệ thống KSNB mất tác dụng. Nêu ra những dẫn chứng cụ thể trong trường hợp c 8 hệ thống KSNB ảnh hưởng xấu đến mục tiêu hoạt động hiệu quả, mục tiêu BCTC và mục tiêu tuân thủ, từ đó đưa ra một số hướng giải quyết. Theo Jovan Krstic (2012) [24] cho rằng trong hoạt động kinh doanh các DN thường xuyên tiếp xúc với rủi ro.
Một trong những cơ chế để giảm thiểu rủi ro là thiết lập hệ thống KSNB. Ông đã phát triển mô hình mới trong KSNB – dựa trên rủi ro kiểm soát. Bằng cách thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn dựa trên thang đo 7 mức độ xoay quanh hệ thống KSNB và quản trị công ty cho người được phỏng vấn lựa chọn. Trong đó, có một số câu đề nghị người được phỏng vấn điền vào.
Bảng câu hỏi được phát cho các nhà quản lý của hơn 2. Kết quả cho thấy, có mối quan hệ tương hỗ giữa việc thiết lập hệ thống KSNB và rủi ro kinh doanh và các công ty nhận thức rõ tầm quan trọng của hệ thống KSNB sẽ quản trị rủi ro tốt hơn Theo Brown. (2010), thì vụ bê bối xuất hiện trong cộng đồng quốc tế đã đặt ra những vấn đề liên quan đến hệ thống KSNB. Một số công ty có vị thế đã có những gian lận nghiêm trọng như Enron, WorldCom, Marconi, Parmalat…gây nên hậu quả nghiêm trọng với nền kinh tế.
Dựa vào việc phân tích tương quan và hồi quy để đánh giá bản chất, mối quan hệ giữa các thành phần cấu thành hệ thống KSNB với việc tiếp cận với việc kiểm soát rủi ro kinh doanh căn cứ vào giả thiết: H1: Có mối quan hệ tích cực giữa hoạt động hệ thống KSNB với rủi ro kinh doanh; H2: Có mối quan tương quan giữa các thành tố cấu thành hệ thống KSNB với việc giảm thiểu rủi ro. Kết quả nghiên cứu cho chỉ ra việc duy trì hệ thống KSNB vững mạnh sẽ ngăn ngừa rủi ro kinh doanh. Ngoài ra, nghiên cứu trong tương lai có thể đánh giá vai trò của kiểm toán nội bộ trong việc đảm bảo chất lượng kiểm soát nội bộ như thế nào. Năm 2006 công trình nghiên cứu của Lembi Noorvee thông qua việc xây dựng bảng câu hỏi để đánh giá các bộ phận cấu thành KSNB được công bố chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu của năm bộ phận cấu thành hệ thống KSNB [26].
Từ đó so sánh hệ thống KSNB của 3 doanh nghiệp được khảo sát trên thị trường Mỹ với nhau và đưa ra các kiến nghị để cải thiện hệ thống KSNB của các doanh nghiệp này. Nghiên cứu của Mongkolsamai, Varipin, Ussahawanitchakit, Phapruke (2012) [27] trên 120 công ty Thái Lan được niêm yết. Kết quả cho thấy môi trường kiểm soát, c 9 đánh giá rủi ro, và thông tin và truyền thông có tác động tích cực đáng kể đến hiệu quả hoạt động của tổ chức. Hơn nữa, tầm nhìn điều hành minh bạch, kiến thức của nhân viên, đa dạng giao dịch kinh doanh, và người tham gia cũng cần có một tác động tích cực vào chiến lược kiểm soát nội bộ.