Chương 1: Giới thiệu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Và cuối cùng, Chương 5 sẽ bao gồm phần tóm tắt lại những nội dung chính trong nghiên cứu. Từ đó trình bày kết luận, những khuyến nghị và những giới hạn của nghiên cứu để đưa ra định hướng nghiên cứu tiếp theo. Quy trình nghiên cứu của luận văn Luận văn được thực hiện theo quy trình như sau: Hình 1.1: Quy trình nghiên cứu Ý tưởng Lý thuyết Các nghiên Giả thuyết Mô hình nghiên cứu nền tảng cứu trước nghiên cứu nghiên cứu Kết luận và Phân tích kết quả, Kiểm định, lựa Chạy mô Thu thập, xử khuyến nghị thảo luận chọn mô hình hình lý dữ liệu Nguyễn Hoàng Bích Ngọc Trang 5 Chương 2: Cơ sở lý thuyết CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến dự phòng rủi ro tín dụng và các cơ sở khác làm nền tảng cho nghiên cứu. Các yếu tố chính thường được cho là có tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng được tổng hợp và trình bày ngắn gọn.
Tác giả cũng tóm tắt lại một vài nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại các quốc gia để có cái nhìn tổng quát về việc chủ đề nghiên cứu đã được thực hiện tại các quốc gia khác như thế nào. Khái niệm NHTM và hoạt động của NHTM Khái niệm NHTM: Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010, ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động của NHTM: hoạt động của NHTM là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: a) Nhận tiền gửi: là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. b) Cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
c) Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ Nguyễn Hoàng Bích Ngọc Trang 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng. Trong đó hoạt động cấp tín dụng là hoạt động tạo ra thu nhập chính yếu cho các ngân hàng thương mại và hoạt động này cũng tạo ra nhiều rủi ro cho các ngân hàng. Theo các quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ để từ cơ sở đó xác định được mức trích dự phòng rủi ro tín dụng tương ứng. Quản lý vốn ngân hàng 2.
Vốn ngân hàng Đối với ngân hàng, vốn của ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay,… được dùng để cho vay, đầu tư, thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác của ngân hàng. Một trong những vấn đề quan tâm của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong vài năm gần đây là việc tăng và duy trì vốn chủ sở hữu ở mức thích hợp. Quản lý vốn ngân hàng Quản lý vốn ngân hàng là chiến lược kế toán nhằm duy trì mức độ đầy đủ của vốn. Điều này giúp một tổ chức đáp ứng nghĩa vụ chi phí trong khi vẫn duy trì dòng tiền hoạt động và chủ yếu liên quan đến các quyết định tài chính (Wahlen, 1994).
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng là vốn được tạo lập thông qua việc góp vốn của các chủ sở hữu, hình thành từ kết quả kinh doanh,. Đây là nguồn vốn ổn định, nên một mặt ngân hàng chủ động sử dụng vốn này vào mục đích kinh doanh của ngân hàng, mặt khác lại được coi như tài sản đảm bảo, gây lòng tin đối với khách hàng và duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp ngân hàng gặp rủi ro. Vốn chủ sở hữu của ngân hàng được hình thành bởi vốn điều lệ (vốn pháp định), vốn tự bổ sung (quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…) và lợi nhuận chưa phân phối. Quy mô vốn chủ sở hữu của ngân hàng chi phối quy mô tổng tài sản của ngân hàng và phải tuân theo tỷ lệ an toàn theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Vốn huy động của ngân hàng thương mại chủ yếu bao gồm: nhận tiền gửi của các tổ chức kinh tế, huy động từ các cá nhân trong xã hội. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn Nguyễn Hoàng Bích Ngọc Trang 7 Chương 2: Cơ sở lý thuyết nhất trong cơ cấu các nguồn vốn của ngân hàng. Tuy nhiên nguồn vốn từ huy động này thì ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và ngân hàng phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi chủ sở hữu có nhu cầu rút vốn. Vốn này luôn biến động nên ngân hàng không được sử dụng hết mà phản có dữ trữ với tỷ lệ theo quy định của ngân hàng Nhà nước Việt Nam để đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng.
Vốn đi vay là nguồn vốn mà ngân hàng chủ động đi vay với mục đích, thời hạn vay và đối tượng vay khác nhau. Nguồn vốn này phát sinh từ mối quan hệ vay mượn giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng Nhà nước, giữa các ngân hàng thương mại với nhau, giữa các ngân hàng thương mại trong nước với ngân hàng nước ngoài,… Việc điều chỉnh quy mô vốn của các tổ chức quản lý ngân hàng ngày càng trở thành một công cụ quan trọng giúp giới hạn mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận, do đó làm tăng niềm tin của khách hàng và giúp cho hệ thống bảo hiểm tiền gửi của Chính phủ tránh khỏi những tổn thất lớn (Rose, 2010). Quản lý vốn ngân hàng là quan trọng và cần thiết đối với các ngân hàng. Các nhà quản trị ngân hàng xem xét, phân tích cơ cấu, tỷ trọng các loại nguồn vốn và từng khoản sử dụng để dự đoán nhu cầu vốn biến động trong tương lai, từ đó có những chính sách thích hợp cho ngân hàng.
Quản lý lợi nhuận ngân hàng 2. Khái niệm quản lý lợi nhuận Theo Healy và Wahlen (1998), quản lý lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý của doanh nghiệp sử dụng báo cáo tài chính và các giao dịch khung để biến đổi số liệu của báo cáo tài chính mà không gây hiểu lầm cho các cổ đông về việc thực hiện các cam kết của doanh nghiệp hoặc làm ảnh hưởng đến kết quả của các hợp đồng đã giao kết mà kết quả của nó phụ thuộc vào các số liệu kế toán được công bố. Các vấn đề về quản lý lợi nhuận Theo Beneish (2001), có hai loại quan điểm liên quan đến quản lý lợi nhuận: quan điểm cơ hội và quan điểm thông tin. Quan điểm cơ hội cho thấy ý định gây hiểu lầm cho các nhà đầu tư, trong khi quan điểm thông tin cho rằng quyết định quản lý lợi nhuận có Nguyễn Hoàng Bích Ngọc Trang 8 Chương 2: Cơ sở lý thuyết thể được sử dụng để báo hiệu sự mong đợi tin về dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp cho nhà đầu tư.
Việc quản lý lợi nhuận còn có thể hiểu là “làm đẹp” báo cáo tài chính. Đây là hành động sử dụng một số kỹ thuật nhằm thay đổi số liệu báo cáo tài chính để đạt được những mục tiêu nhất định. Mục tiêu của hành động này có thể là để đạt được mức lợi nhuận theo kế hoạch, để bảo đảm một số hệ số tài chính như mong muốn, v.v… Một số kỹ thuật mà các doanh nghiệp thường sử dụng để làm tăng lợi nhuận như giảm tỷ lệ khấu hao, giảm mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm tỷ lệ dự phòng phải thu khó đòi,… Đối với ngân hàng, các nhà quản trị ngân hàng có thể sử dụng kỹ thuật giảm mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, thanh lý tài sản, v.v… để làm tăng lợi nhuận của ngân hàng. Dự phòng rủi ro tín dụng 2.
Rủi ro tín dụng a) Khái niệm rủi ro tín dụng: Hiện có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng. Trong đó có khái niệm rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng cho các khách hàng. Rủi ro tín dụng biểu hiện thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ, trả không đầy đủ hoặc trả nợ không đúng hạn đã cam kết với ngân hàng (Nguyễn Thị Nhung, 2012). b) Tác động của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thể hiện qua lợi nhuận và vốn: Hiện nay, lợi nhuận của các ngân hàng chủ yếu đến từ hoạt động tín dụng.
Dự phòng rủi ro tín dụng là một khoản tiền trích từ thu nhập của ngân hàng để hình thành một khoản dự trữ bù đắp cho khoản tổn thất tín dụng có thể phát sinh. Khi rủi ro tín dụng phát sinh và tăng lên, các ngân hàng tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, từ đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, giảm tài sản trên bảng Cân đối kế toán. Theo Mai Thị Quỳnh Như (2014), các ngân hàng luôn bị sức ép trong kinh doanh khiến các ngân hàng phải che giấu đi các khoản nợ đáng lẽ phải trích dự phòng rủi ro một cách đầy đủ. Thứ nhất, hội đồng quản trị các ngân hàng đã cam kết với cổ đông về tăng trưởng lợi nhuận, nếu không đạt, Nguyễn Hoàng Bích Ngọc Trang 9 Chương 2: Cơ sở lý thuyết ngoài việc giá cổ phiếu xuống dốc, uy tín của họ sẽ bị giảm, dẫn đến nguy cơ “mất ghế”.
Thứ hai, các ngân hàng thường nhìn nhau trong việc công bố lợi nhuận. Thứ ba, việc công bố lợi nhuận còn liên quan đến uy tín và thương hiệu của một ngân hàng trong công tác huy động vốn. c) Biện pháp xử lý rủi ro tín dụng: các ngân hàng thương mại có thể sử dụng những biện pháp sau: Thu hồi nợ đọng từ bán tài sản đảm bảo, chuyển cơ quan chức năng phát mãi tài sản đảm bảo, thu hồi nợ khách hàng vay.