chương 1 đã trình bày các nội dung cơ bản của luận văn gồm: lý do thực hiện đề tài; các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu; đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu; đóng góp của đề tài và bố cục của luận văn. Chương 2 tiếp theo tác giả sẽ trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến dự phòng rủi ro tín dụng và lược khảo các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 2.
Khái niệm rủi ro tín dụng Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và hệ thống NHTM nói riêng đều chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn. Rủi ro là sự kiện xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của NHTM (Nguyễn Thị Mùi, 2008). Hussain và Al-Ajmi (2012) trong nghiên cứu thực nghiệm của họ về thực hành quản lý rủi ro của các ngân hàng thông thường và ngân hàng Hồi giáo ở Bahrain cho rằng “Rủi ro quan trọng nhất mà các ngân hàng phải đối mặt là rủi ro tín dụng. Loại rủi ro này từ lâu đã được coi là rủi ro chi phối đối với các ngân hàng và là một phần vốn có trong hoạt động kinh doanh cho vay chính của họ” (trang 230).
Theo Joel Bessic (2011), rủi ro tín dụng là những “tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay”. Theo Brown và Moles (2014), rủi ro tín dụng có thể được định nghĩa là "khả năng một bên trong hợp đồng không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận". Tại Việt Nam, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 quy định tại khoản 1 điều 3 như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Phân loại rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011), nếu phân loại theo nguyên nhân phát sinh thì rủi ro tín dụng gồm 2 loại là rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk).
8 (i) Rủi ro giao dịch: là loại rủi ro phát sinh trong quá trình giao dịch, thẩm định tín dụng, đánh giá khách hàng vay, bao gồm 3 loại: - Rủi ro lựa chọn: là loại rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định tín dụng, đánh giá và phân tích khách hàng nhằm lựa chọn những phương án vay vốn hiệu quả để quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm: là loại rủi ro phát sinh từ việc không tuân thủ quy trình, quy định và tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, các loại tài sản bảo đảm (tài sản bảo đảm), chủ thể, cách thức đảm bảo và hạn mức cho vay trên giá trị của tài sản bảo đảm khi nhận tài sản bảo đảm. - Rủi ro nghiệp vụ: là loại rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và xử lý kỹ thuật các khoản vay có vấn đề. (ii) Rủi ro danh mục: là loại rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cấp tín dụng của ngân hàng; bao gồm 2 loại: - Rủi ro nội tại: là loại rủi ro phát sinh từ các yếu tố, đặc điểm mang tính chất riêng biệt bên trong mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế cụ thể.
Nó xuất phát từ đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn. - Rủi ro tập trung: là loại rủi ro phát sinh khi ngân hàng tập trung vốn vay quá nhiều đối với một số khách hàng hoặc một số doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một khu vực địa lý nhất định hay cùng một loại hình cho vay có mức độ rủi ro cao. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Nguyễn Thị Mùi (2008) cho rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro cơ bản nhất của ngân hàng. Nguyên nhân gây nên rủi ro tín dụng thường do: - Người vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính do đó không đủ khả năng để thanh toán khoản nợ khi đến hạn thanh toán cho ngân hàng.
- Do thiếu thông tin về khách hàng vay hoặc thông tin không đủ mức độ tin cậy, kịp thời dẫn đến việc ngân hàng thực hiện cho vay vốn đối với những khách 9 hàng có tình hình kinh doanh kém hiệu quả dẫn gây khó khăn trong việc thu nợ đến hạn. - Năng lực của cán bộ ngân hàng còn nhiều bất cập về trình độ cũng như khả năng phân tích, đánh giá khi thẩm định hồ sơ thông tin khách hàng hoặc kiểm tra mục đích sử dụng vốn sau giải ngân. Ngoài ra, những vi phạm về đạo đức trong kinh doanh dẫn đến cho vay khống, cho vay không đúng mục đích, thẩm định dự án đầu tư không chính xác cũng dẫn đến rủi ro cho khoản tín dụng đã cấp. - Giá trị của các tài sản bảo đảm cho khoản vay không đủ đáp ứng được giá trị thu nợ của ngân hàng.
- Các nguyên nhân khác như người vay vốn cố ý không trả nợ hoặc các lý do bất khả kháng như người vay chết hoặc mất tích; thiên tai, dịch bệnh hoặc có sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, điều chỉnh quy hoạch vùng, ngành, biến động thị trường trong và ngoài nước, quan hệ cung cầu hàng hóa thay đổi. đều có thể khiến doanh nghiệp vay vốn lâm vào tình trạng khó khăn tài chính khiến doanh nghiệp dù cho có thiện chí nhưng vẫn không thể trả được nợ cho ngân hàng. Hậu quả của rủi ro tín dụng (i) Đối với ngân hàng: khi rủi ro tín dụng xảy ra, ngân hàng không thể thu được lãi và gốc của khoản vay đến hạn thanh toán, tuy nhiên ngân hàng vẫn phải chi trả lãi cho các khoản tiền gửi đang huy động từ dân cư, các tổ chức kinh tế… dẫn tới nguy cơ mất cân đối thu chi, ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Bên cạnh đó, theo quy định của NHNN các ngân hàng phải trích lập dự phòng đối với các khoản nợ xấu, điều này khiến chi phí tăng lên và lợi nhuận của ngân hàng bị giảm đi.
10 Điều này khiến cơ hội tiếp cận vốn vay ngân hàng của đối tượng khách hàng này trở nên khó khăn hơn rất nhiều do các TCTD buộc phải thận trọng khi thẩm định, đánh giá chấm điểm khách hàng. (iii) Đối với nền kinh tế: hoạt động của hệ thống ngân hàng có liên quan đến hầu hết các chủ thể, lĩnh vực khác nhau trong nền kinh tế do đó rủi ro từ hoạt động tín dụng có thể khiến ngân hàng gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh và tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội. Một khi ngân hàng hoạt động thua lỗ, tình hình tài chính kém hiệu quả có thể khiến các cổ đông mất vốn đầu tư, những người gửi tiền có nguy có mất đi những khoản tiết kiệm của họ. Tình trạng tài chính xấu của một ngân hàng cũng có thể tạo ra sự nghi ngờ của công chúng, những người gửi tiền về mức độ ổn định, khả năng thanh khoản của cả hệ thống ngân hàng, từ đó gây tác động xấu tới hệ thống ngân hàng, kéo theo phản ứng dây chuyền và phá vỡ tính ổn định của thị trường tài chính và xa hơn là cả nền kinh tế quốc gia.
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG 2. Phân loại nợ Theo Chuẩn mực hệ thống kế toán quốc tế IAS 39, những tài sản tài chính được đánh giá khả năng suy giảm giá trị một cách riêng lẻ và đã ghi nhận dự phòng giảm giá thì sẽ không được xem xét khả năng suy giảm giá trị theo nhóm. Các khoản vay được đánh giá khả năng suy giảm giá trị được phân loại vào 5 nhóm nợ: - Nợ đủ tiêu chuẩn (current) - Nợ cần chú ý (special mention) - Nợ dưới tiêu chuẩn (substandard) - Nợ nghi ngờ (doubtful) - Nợ có khả năng mất vốn (loss) 11 Bảng 2.1: Ma trận phân loại nợ theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) Khả năng trả nợ Tốt Trung bình Xấu Tình hình tài chính Tốt Nợ đủ tiêu chuẩn Nợ cần chú ý Nợ dưới tiêu chuẩn Tương đối tốt Nợ cần chú ý Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ dưới tiêu chuẩn Trung bình Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ có khả năng mất Dưới trung bình Nợ dưới tiêu chuẩn Nợ nghi ngờ vốn Nợ có khả năng Nợ có khả năng mất Tồi Nợ nghi ngờ mất vốn vốn Nguồn: Tác giả tổng hợp Tại Việt Nam, ngày 22 tháng 04 năm 2005, NHNN ra Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN do NHNNVN ban hành về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD. Tiếp đó, Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 có quy định cụ thể hơn về phân loại nợ tại điều 10: TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại nợ (trừ các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng) theo 05 nhóm như sau a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: - Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn.
- Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn. b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: - Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày. - Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu. 12 c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Nợ gia hạn nợ lần đầu. - Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. - Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà TCTD không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật. - Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD hoặc công ty con của TCTD hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một TCTD khác trên cơ sở TCTD cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính TCTD nhận vốn góp.