Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý chi phí trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng quản lý chi phí trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Agribank chi nhánh tỉnh Tuyên Quang Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý chi phí trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Agribank chi nhánh tỉnh Tuyên Quang 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI PHÍ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro thường hàm chứa trong nó chính là khả năng xảy ra tổn thất và có thể diễn ra đối với mọi ngành, mọi lĩnh vực và mọi chủ thể trong xã hội. Rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ và gây tổn thất lớn tới lợi nhuận cũng như sự an toàn cho nguồn vốn cũng như chính hệ thống ngân hàng. Vì vậy việc phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các NHTM. Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường tài chính, gây hậu quả nặng nề đối với hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế.
Có nhiều khái niệm rủi ro tín dụng được đưa ra như: Theo định nghĩa của Ủy ban Basel: ―rủi ro tín dụng là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết.‖ Theo Joel Bessic cho rằng: Rủi ro tín dụng là những tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay. Theo Nguyễn Văn Tiến, rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi đúng kì hạn. Theo Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 về Phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: ―Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận‖. 8 Theo Thông tư 2016/TT/NHNN ngày 12/08/2016 của Thống đốc ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thì ―Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài‖.
(Ngân hàng nhà nước, 2016) Như vậy, có thể thấy, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất của ngân hàng thương mại phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Theo đó, rủi ro tín dụng chính là rủi ro chính, đa dạng và có nguy cơ tiềm ẩn cao do vậy để nhằm giảm thiểu những tổn thất do những rủi ro tín dụng gây ra thì các ngân hàng thương mại cần phân loại trích lập chi phí dự phòng và quản lý chi phí trích lập dự phòng hiệu quả.2 Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách thức phân loại rủi ro khác nhau, cụ thể như: * Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành 02 nhóm là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục, trong đó: - Rủi ro giao dịch: Là loại rủi ro tín dụng có nguyên nhân phát sinh do những hạn chế, tồn tại trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch thường bao gồm: + Rủi ro lựa chọn: Đây là rủi ro xảy ra trong quá trình cán bộ tín dụng thực hiện đánh giá, phân tích khách hàng vay vốn nhằm lựa chọn những phương án vay vốn tối ưu làm căn cứ ra quyết định cấp tín dụng. + Rủi ro đảm bảo: Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm khi khách hàng xin vay như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và 9 hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: Là rủi ro tín dụng có nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm: + Rủi ro nội tại: Là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của khách hàng vay vốn hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng vay. + Rủi ro tập trung: Đây là rủi ro xảy ra khi ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định,… * Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng chia thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan, trong đó: - Rủi ro khách quan: Là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay tử vong, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ chính sách.
- Rủi ro chủ quan: Do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác * Căn cứ vào khả năng hoàn trả của khách hàng - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Trong hợp đồng tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải thỏa thuận về khoản thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. - Rủi ro do không có khả năng trả nợ: Là rủi xảy ra trong trường hợp người đi vay mất khả năng chi trả. - Rủi ro tín dụng không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận xử lý thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1.3 Hậu quả của rủi ro tín dụng 10 Đối với ngân hàng thương mại, ngân hàng không chỉ phải gánh chịu những rủi ro xuất phát từ chính bản thân ngân hàng thương mại mà còn phải gánh chịu những rủi ro xuất phát từ phía khách hàng, từ môi trường bên ngoài gây ra.
Rủi ro tín dụng gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, khi rủi ro xảy ra, lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng sẽ bị giảm, khi xuất hiện những khoản nợ quá hạn thì các ngân hàng phải ngay lập tức tìm cách thu hồi nợ. Việc thu hồi nợ vừa làm mất thời gian của cán bộ tín dụng, vừa làm tăng các khoản chi phí thu hồi nợ. Không chỉ có vậy, nếu khoản nợ quá hạn xảy ra trong hợp đồng đồng cho vay giữa nhiều ngân hàng thì ngân hàng phải gánh chịu thêm các khoản chi phí về thời gian và tiền cho công tác thương lượng, đàm phán trong việc xử lý nợ.
Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng sẽ bị mất thêm chi phí cơ hội do các khoản nợ quá hạn làm chậm lại vòng vay vốn tín dụng, làm mất đi các khoản đầu tư sinh lời khác của ngân hàng. Trong trường hợp những rủi ro, tổn thất nhỏ thì ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản dự phòng rủi ro đã trích lập hoặc lợi nhuận thu được trong kì. Tuy nhiên, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lời và mở rộng kinh doanh của ngân hàng, thậm chí còn làm uy tín của ngân hàng bị giảm sút. và có thể rơi vào tình trạng mất khả năng chi trả, thậm chí có thể bị phá sản.
Đối với nền kinh tế, trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến nhiều chủ thể, nhiều thành phần kinh tế. Vì thế, kết quả kinh doanh của ngân hàng đồng thời phản ảnh kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, và ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đời sống khách hàng. Khi rủi ro xảy ra, không chỉ ngân hàng không thể thu hồi vốn mà mục tiêu sử dụng vốn vay của khách hàng cũng khó đảm bảo, gây khó khăn cho khách hàng vay vốn ở những lần tiếp theo. Nếu rủi ro xảy ra trong phạm vi lớn, quy mô rộng thì tốc độ phát triển của nền kinh tế, của ngành, của khu vực cũng bị ảnh hưởng xấu.
Hơn thế nữa, các ngân hàng thương mại có vai trò quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến chính sách tiền tệ, công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của đất nước do vậy nếu có sự thất thoát vốn lớn trong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng cho vay trực thuộc, không khắc phục kịp thời có thể gây mất an toàn cho toàn 11 bộ hệ thống ngân hàng, gây hậu quả nghiêm trọng đến sự phát triển của nền kinh tế và có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính. Những hậu quả nặng nề có thể gây ra bởi RRTD cho thấy công tác hạn chế RRTD có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại của mỗi NHTM. Nếu công tác này được thực hiện tốt sẽ hạn chế tổn thất cho ngân hàng. Mặt khác, trong quản lý nhà nước, hạn chế được RRTD, thì NHTM sẽ cung cấp vốn một cách hiệu quả cho nền kinh tế, là động lực phát triển kinh tế.2 Quản lý chi phí trích lập dự phòng rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1.