Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã ngành: 9340101) của tác giả Tăng Mỹ Sang, thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế - Tài chính Thành phố Hồ Chí Minh (UEF) dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Hoàng Thị Chỉnh và Nguyễn Quốc Anh, mang tên: "Tác động của quản trị rủi ro tín dụng đến tính ổn định của các ngân hàng thương mại Việt Nam".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hệ thống tài chính Việt Nam là hệ thống dựa trên ngân hàng, trong đó các ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vai trò cung ứng vốn chủ đạo cho nền kinh tế. Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu nhập chính nhưng đồng thời cũng là nguồn phát sinh rủi ro tín dụng (RRTD) lớn nhất. Thực tế giai đoạn 2008–2020 cho thấy mức độ ổn định tài chính của hệ thống NHTM Việt Nam biến động mạnh và khó lường. Chỉ số Z-score của toàn hệ thống đã giảm mạnh từ 32,71 năm 2008 xuống 20,83 năm 2009; phục hồi lên mức 32,37 vào năm 2010 nhưng tiếp tục sụt giảm nghiêm trọng trong giai đoạn tái cơ cấu 2012–2013 (đạt 10,57 năm 2012 và chạm mức 8,95 năm 2013). Đến cuối năm 2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh khiến nợ xấu gia tăng, chỉ số Z-score của hệ thống lại sụt giảm xuống còn 12,33. Mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng và nợ tiềm ẩn về dưới 3% vào cuối năm 2020 chưa đạt được trên thực tế.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trong và ngoài nước trước đây chủ yếu tiếp cận theo các mối quan hệ đơn lẻ (hoặc tác động của quản trị RRTD đến khả năng sinh lợi, hoặc tác động của khả năng sinh lợi đến ổn định tài chính, hoặc tác động trực tiếp của quản trị RRTD đến ổn định tài chính). Rất ít công trình tích hợp đồng thời mối quan hệ phi tuyến tính và xem xét vai trò trung gian của khả năng sinh lợi trong mối liên hệ giữa quản trị RRTD và ổn định tài chính. Đặc biệt, tại Việt Nam - một nền kinh tế đang phát triển có sự điều tiết và giám sát chặt chẽ của Nhà nước - khoảng trống này chưa được kiểm định toàn diện trên chuỗi dữ liệu dài.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định mục tiêu tổng quát và 5 mục tiêu cụ thể:

  • Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tác động của quản trị rủi ro tín dụng đến tính ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể 1: Hệ thống hóa góp phần làm rõ hơn những vấn đề có tính lý luận về tác động của quản trị RRTD đến ổn định tài chính của NHTM, xác định tiêu chí, nhân tố tác động qua đó khẳng định sự cần thiết khách quan của việc đề xuất các giải pháp quản trị RRTD và tăng tính ổn định tài chính cho các NHTM Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể 2: Xác định, phân tích và đánh giá tác động và xu hướng tác động một chiều của quản trị rủi ro tín dụng đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
  • Mục tiêu cụ thể 3: Xác định, phân tích và đánh giá tác động và xu hướng tác động một chiều của khả năng sinh lời đến sự ổn định tài chính của ngân hàng.
  • Mục tiêu cụ thể 4: Xác định, phân tích và đánh giá các tác động trực tiếp và xu hướng của quản trị rủi ro tín dụng đối với sự ổn định tài chính.
  • Mục tiêu cụ thể 5: Xác định, phân tích và đánh giá các tác động gián tiếp và xu hướng của quản trị rủi ro tín dụng đối với sự ổn định tài chính thông qua khả năng sinh lời với tư cách là biến trung gian; từ đó đề xuất hàm ý cho các giải pháp nhằm hoàn thiện quản trị RRTD, tăng tính ổn định tài chính cho các NHTM Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Xu hướng tác động của quản trị RRTD đến ổn định tài chính của các ngân hàng như thế nào?
  2. Quản trị RRTD có tác động đơn hướng đến khả năng sinh lợi của các NHTM Việt Nam không? Xu hướng tác động như thế nào?
  3. Khả năng sinh lợi có tác động đơn hướng đến ổn định tài chính của ngân hàng không? Xu hướng tác động như thế nào?
  4. Quản trị RRTD có tác động trực tiếp đến ổn định tài chính của ngân hàng không? Xu hướng tác động như thế nào?
  5. Quản trị RRTD có tác động gián tiếp đến ổn định tài chính của ngân hàng thông qua khả năng sinh lợi không? Xu hướng tác động như thế nào?
  6. Hàm ý cho các giải pháp nào để hoàn thiện quản trị RRTD nhằm tăng khả năng sinh lợi và tăng tính ổn định tài chính cho các NHTM Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tác động của quản trị rủi ro tín dụng đến sự ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Hệ thống các NHTM Việt Nam, chọn mẫu gồm 27 NHTM đại diện.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2020.
  • Phạm vi nội dung: Luận án giới hạn nghiên cứu sự ổn định của ngân hàng ở khía cạnh ổn định tài chính (đo lường bằng chỉ số Z-score), không bao quát các khía cạnh phi tài chính khác như uy tín xã hội hay mức độ gắn kết khách hàng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước theo 3 nhánh chính:

Nhánh 1: Tác động của quản trị RRTD đến khả năng sinh lợi của ngân hàng

  • Elbir (2021): Khảo sát 10 ngân hàng tại Tunisia giai đoạn quý 4/2010–quý 4/2019, chỉ ra mối quan hệ phi tuyến giữa nợ xấu (NPL) và khả năng sinh lời, khẳng định việc quản trị nợ xấu qua một ngưỡng nhất định sẽ quyết định mức sinh lợi.
  • Akomeah (2020): Nghiên cứu 7 ngân hàng thương mại niêm yết tại Ghana giai đoạn 2007–2016 (70 quan sát) bằng mô hình FEM và REM. Kết quả ghi nhận tỷ lệ nợ xấu (NPL), hệ số an toàn vốn (CAR) và quy mô (SIZE) có tác động đáng kể đến tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA).
  • Lalon (2020): Đánh giá hệ thống ngân hàng Bangladesh giai đoạn 2010–2019 qua các mô hình Pooled OLS, FEM, REM, GLS và GMM. Tác giả tìm thấy tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ và dự phòng rủi ro cho vay tác động có ý nghĩa thống kê đến tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM).
  • Các nghiên cứu khác: Keeley (1990), Berger và cộng sự (2009) chỉ ra quản lý rủi ro tốt hơn mang lại lợi nhuận cao hơn; Natalya và cộng sự (2015) ghi nhận việc nới lỏng đòn bẩy và chấp nhận rủi ro cao làm tăng lợi nhuận ngắn hạn; Ali và Dhiman (2019) chứng minh mối liên hệ giữa rủi ro và khả năng sinh lời rõ nét hơn sau khủng hoảng 2008.

Nhánh 2: Tác động của khả năng sinh lợi đến ổn định tài chính của ngân hàng

  • Tan và cộng sự (2016): Khẳng định khả năng sinh lời tác động trực tiếp đến mức độ ổn định của tổ chức tín dụng.
  • Meiselman và cộng sự (2018): Chứng minh lợi nhuận cao trong giai đoạn bình thường đôi khi bắt nguồn từ việc đầu tư tài sản rủi ro, và đây chính là chỉ báo cho sự bất ổn khi xuất hiện cú sốc kinh tế.

Nhánh 3: Tác động của quản trị RRTD đến ổn định tài chính của ngân hàng

  • Adegbie và Fakile (2013), Varotto (2011): Quản trị RRTD là một trong ba nhân tố chi phối mạnh nhất đến ổn định tài chính, bên cạnh thanh khoản và rủi ro thị trường.
  • Goetz (2018): Chất lượng tài sản cao giúp cải thiện khả năng sinh lời, từ đó gián tiếp củng cố sự ổn định tài chính.
  • Đào Nguyên Thuận (2019): Phân tích thực trạng hệ thống ngân hàng Việt Nam, cho thấy quản trị RRTD chưa hiệu quả dẫn đến nợ xấu tăng cao, bào mòn vốn và đe dọa sự ổn định tài chính.
  • Nguyễn Vinh Hùng (2019), Phạm Thị Kim Anh (2019): Ghi nhận quá trình xử lý nợ xấu theo Quyết định 254/QĐ-TTg giai đoạn 2012–2017 giúp cải thiện ROA (từ 0,48% lên 0,8%) và ROE (từ 5,94% lên 10,2%), nhưng giai đoạn 2018–2019 nợ xấu có dấu hiệu tăng trở lại (tính đến tháng 3/2019 nợ xấu nội bảng của 22 ngân hàng là 84 nghìn tỷ đồng).

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trong nước trước đây thường tiếp cận theo từng khía cạnh riêng lẻ: phân tích quản trị RRTD tại từng ngân hàng cụ thể, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi, hoặc tác động của RRTD đến hiệu quả kinh doanh. Luận án này lựa chọn giải quyết khoảng trống:

  1. Đánh giá đồng thời cả tác động trực tiếp và tác động gián tiếp của quản trị RRTD đến tính ổn định tài chính thông qua biến trung gian là khả năng sinh lợi.
  2. Ứng dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo theo Iacobucci và cộng sự (2007) kết hợp hồi quy dữ liệu bảng động để khắc phục nhược điểm sai số lớn của các mô hình tuyến tính đơn thuần khi kiểm định biến trung gian tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2006–2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khái niệm

Luận án tổng hợp và vận dụng hệ thống các lý thuyết kinh tế và tài chính - ngân hàng:

  • Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information Theory): Khởi xướng bởi Akerlof (1970), phát triển bởi Leland và Pyle (1977), Bofondi và cộng sự (2004). Lý thuyết giải thích việc thiếu hụt thông tin giữa ngân hàng và người vay dẫn đến hiện tượng lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức, làm phát sinh nợ xấu và đe dọa ổn định tài chính.
  • Lý thuyết quản trị rủi ro ngân hàng (Pyle, 1999): Yêu cầu phân bổ vốn vào tài sản có mức bù rủi ro tương xứng, kiểm soát 4 rủi ro chính: thị trường, tín dụng, hoạt động và thanh khoản.
  • Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (Markowitz, 1952): Đa dạng hóa danh mục để phân tán rủi ro phi hệ thống, nhưng không thể loại trừ rủi ro hệ thống.
  • Lý thuyết ưa thích thanh khoản (Minsky): Nhu cầu nắm giữ tiền mặt và phần bù thanh khoản thể hiện qua lãi suất cho vay.
  • Lý thuyết lựa chọn đối nghịch (Garella, P.): Người đi vay có rủi ro cao sẵn sàng chấp nhận mức lãi suất cao, dẫn đến nguy cơ sai lệch trong quyết định cấp tín dụng.
  • Lý thuyết lạm phát/giảm phát nợ (Fisher, 1933): Sự đổ vỡ bong bóng nợ dẫn đến thanh lý tài sản, giá tài sản sụt giảm gây phá sản dây chuyền.
  • Lý thuyết Cấu trúc - Hành vi - Hiệu quả (SCP) (Evanoff và Fortier, 1988): Cấu trúc thị trường và mức độ cạnh tranh chi phối khả năng sinh lợi của ngân hàng.
  • Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Modigliani và Miller, 1958; Mayer, 1984): Cân nhắc giữa lợi ích lá chắn thuế của nợ và chi phí kiệt quệ tài chính.
  • Lý thuyết hiệu quả (Demsetz, 1969): Ngân hàng có năng lực quản trị tốt và quy mô tối ưu sẽ tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao lợi nhuận và thị phần.
  • Lý thuyết chi phí đại diện (Jensen và Meckling, 1976): Xung đột lợi ích giữa người quản lý (người đại diện) và cổ đông dẫn đến các quyết định tín dụng dưới chuẩn vì mục tiêu cá nhân ngắn hạn.
  • Lý thuyết phát hiện tín hiệu (Spence, 1973): Tăng trưởng vốn và hiệu quả hoạt động phát tín hiệu tích cực ra thị trường.
  • Lý thuyết định chế trung gian tài chính (Diamond, 1986): Xử lý vấn đề bất đối xứng thông tin, huy động vốn phân tán để cung cấp cho người cần vốn.
  • Lý thuyết tăng trưởng tài chính (Bagehot, 1873): Thị trường tài chính ổn định kích thích tăng trưởng kinh tế vĩ mô.
  • Lý thuyết cạnh tranh - ổn định (Cass và Shell, 1976): Phân tích mối quan hệ giữa sức mạnh thị trường, mức độ cạnh tranh và sự an toàn của ngân hàng.
  • Lý thuyết các kênh cho vay của ngân hàng (Bernanke và Blinder, 1988): Sự truyền dẫn của chính sách tiền tệ qua nguồn cung tín dụng ngân hàng.
  • Lý thuyết cho vay thương mại (Moulton, 1918) và Lý thuyết thu nhập dự kiến (Prochanow, 1944): Định hướng cấp tín dụng dựa trên dòng tiền hoàn trả dự kiến của khách hàng để phòng ngừa rủi ro.
  • Lý thuyết rủi ro tín dụng (Merton, 1974): Định giá tài sản và xác định xác suất vỡ nợ của đối tác vay vốn.
  • Lý thuyết hiệu quả kinh tế (Arrow và cộng sự, 1961): Tối ưu hóa chi phí đầu vào để tối đa hóa đầu ra.
  • Lý thuyết bộ đệm (Alloway, 1987): Duy trì nguồn vốn tự có vượt mức tối thiểu quy định để hấp thụ các cú sốc bất lợi.
  • Hiệp ước Basel II và 17 nguyên tắc quản trị RRTD (Basel, 2000; Suresh, 2018): Khung tiêu chuẩn quốc tế tập trung vào 3 nhóm: thiết lập môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc), quy trình cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc), và quy trình đo lường, giám sát, kiểm soát tín dụng (10 nguyên tắc).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng:

  • Phương pháp định tính: Thu thập, thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh các dữ liệu từ báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất, báo cáo thường niên của 27 NHTM và số liệu báo cáo của Ngân hàng Nhà nước; dữ liệu kinh tế vĩ mô trích xuất từ cơ sở dữ liệu chỉ báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Qua đó đánh giá thực trạng nợ xấu, trích lập dự phòng và tỷ lệ sinh lời.
  • Phương pháp định lượng: Sử dụng dữ liệu bảng (panel data). Để phân tích các mối quan hệ trực tiếp, tác giả sử dụng các kỹ thuật hồi quy: Pooled OLS, mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), và mô hình hồi quy GMM dạng hệ thống (SGMM) nhằm kiểm soát hiện tượng nội sinh và tính trễ của các biến tài chính.
  • Kiểm định biến trung gian: Để kiểm tra tác động gián tiếp của quản trị RRTD đến ổn định tài chính qua khả năng sinh lợi, tác giả áp dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo theo đề xuất của Iacobucci và cộng sự (2007), Zhao và cộng sự (2010), Jose (2013), và Kenny (2016). Phương pháp này giúp khắc phục hạn chế sai số chuẩn lớn trong kiểm định trung gian bằng hồi quy truyền thống.

Hệ thống các biến nghiên cứu

Dựa trên mục lục, danh mục từ viết tắt và danh mục bảng biểu, hệ thống biến của luận án gồm:

Phân nhóm biến Tên biến Ký hiệu Ý nghĩa / Cách đo lường trong văn bản
Biến phụ thuộc Tính ổn định tài chính Z-Score Đo lường khoảng cách đến ngưỡng vỡ nợ của ngân hàng
Biến trung gian / Phụ thuộc Khả năng sinh lợi ROA, ROE, NIM Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, biên lãi thuần
Biến quản trị RRTD Tỷ lệ nợ xấu NPL, NPLGL Dư nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay
Dự phòng RRTD LLPR, LLRNPL Tỷ lệ dự phòng RRTD; hệ số dự phòng trên nợ xấu
Hệ số an toàn vốn CAR Vốn tự có trọng số rủi ro trên tổng tài sản
Kiểm soát / Chất lượng CRC, AQ, RCLSTF Kiểm soát RRTD; tỷ lệ chất lượng tài sản; tỷ lệ cho vay
Biến kiểm soát ngân hàng Quy mô ngân hàng SIZE Quy mô tổng tài sản
Tăng trưởng tín dụng CRG Tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay
Thu nhập ngoài lãi NII Tỷ lệ thu nhập phi tín dụng trên tổng thu nhập
Tỷ lệ cho vay / tiền gửi LATD Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng nguồn vốn tiền gửi
Biến kiểm soát vĩ mô Tăng trưởng kinh tế GDP Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội
Lạm phát INF Tỷ lệ lạm phát hàng năm

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

  • Dữ liệu vi mô: Báo cáo tài chính đã kiểm toán hợp nhất của 27 NHTM Việt Nam trong 15 năm (2006–2020). Nhóm 27 NHTM này đại diện cho hơn 85% tổng tài sản toàn hệ thống NHTM Việt Nam tính đến năm 2020.
  • Dữ liệu vĩ mô: Các chỉ số GDP và lạm phát giai đoạn 2006–2020 từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Bối cảnh nghiên cứu (Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu)

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể, nêu bật bối cảnh sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và giai đoạn tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng theo Quyết định 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ cùng Chỉ thị 01/CT-NHNN. Các số liệu thực tế được nêu rõ:

  • Giai đoạn 2012–2017: Sau tái cơ cấu, nợ xấu giảm dần, khả năng sinh lời có bước hồi phục (ROA tăng từ 0,48% năm 2016 lên 0,8% năm 2017; ROE tăng từ 5,94% năm 2016 lên 10,2% năm 2017).
  • Giai đoạn 2018–2019: Áp lực nợ xấu tăng trở lại. Tính đến tháng 3/2019, tổng nợ xấu nội bảng của 22 ngân hàng đạt khoảng 84 nghìn tỷ đồng (tăng 4,6 nghìn tỷ đồng, tương đương mức tăng 5,9% so với cuối kỳ trước). Trong khi đó, tăng trưởng dư nợ cho vay năm 2018 chỉ đạt 3,46% với 15 ngân hàng phát sinh nợ xấu. Trường hợp điển hình là BIDV - ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất hệ thống tính đến tháng 12/2019 - do nợ xấu tăng cao dẫn đến chi phí trích lập dự phòng lớn, khiến lợi nhuận sụt giảm gần 80% so với ban đầu.
  • Chương này cũng xác định đối tượng, phạm vi thời gian (2006–2020), phạm vi không gian (27 NHTM Việt Nam), mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, tính cấp thiết và cấu trúc 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết các cơ sở lý luận nền tảng:

  • Phân tích bản chất của quản trị RRTD theo 17 nguyên tắc của Ủy ban Basel (Basel, 2000) và quy trình quản trị 4 bước của Suresh (2018): (1) Hoạch định chính sách, chiến lược; (2) Đo lường RRTD, xác định mức độ rủi ro và khả năng chịu đựng tổn thất; (3) Áp dụng chính sách, công cụ phòng ngừa và bù đắp rủi ro; (4) Theo dõi, đánh giá và điều chỉnh.
  • Làm rõ các khái niệm và thước đo khả năng sinh lời (ROA, ROE, NIM) qua các công trình của Rose (1999), Güngör (2007), San (2013), Tariq (2014), Muya (2016), Yüksel (2018).
  • Tổng hợp các cách tiếp cận đo lường ổn định tài chính (tiếp cận chỉ số phá sản và mô hình cơ sở kế toán Z-score) theo Deutsche Bundesbank (2003), Creel (2015), ECB (2014), Alshubiri và cộng sự (2017), Houben (2004), Segoviano và cộng sự (2009), Monnin (2018).
  • Tổng quan hệ thống các lý thuyết kinh tế chi phối và khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm trong, ngoài nước để chỉ ra khe hở nghiên cứu về mối quan hệ trung gian giữa quản trị RRTD, khả năng sinh lợi và ổn định tài chính.

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu chi tiết và thiết lập 3 mô hình kinh tế lượng phục vụ kiểm định:

  • Mô hình 1: Tác động của các biến quản trị RRTD (NPL, LLPR, CAR, CRC, AQ...) cùng các biến kiểm soát (SIZE, CRG, LATD, GDP, INF) đến khả năng sinh lợi của ngân hàng (ROA, ROE).
  • Mô hình 2: Tác động của khả năng sinh lợi (ROA, ROE) cùng các biến kiểm soát đến tính ổn định tài chính của ngân hàng (Z-Score).
  • Mô hình 3: Tác động trực tiếp của các biến quản trị RRTD đến tính ổn định tài chính của ngân hàng (Z-Score).
  • Quy trình kiểm định trung gian: Áp dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo theo Iacobucci và cộng sự (2007) để đo lường đường dẫn tác động gián tiếp từ Quản trị RRTD $\rightarrow$ Khả năng sinh lợi $\rightarrow$ Ổn định tài chính (Z-score).
  • Thiết lập quy trình xử lý dữ liệu qua các bước kiểm tra đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và ước lượng bằng SGMM để giải quyết vấn đề nội sinh.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 phản ánh toàn bộ kết quả phân tích thực trạng và hồi quy thực nghiệm:

  • Thực trạng quản trị RRTD, sinh lợi và ổn định tài chính: Thống kê mô tả chi tiết tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ trích lập dự phòng và chỉ số Z-score của 27 NHTM giai đoạn 2006–2020. Phân tích sự biến động của Z-score trong các giai đoạn khủng hoảng (2008: 32,71; 2009: 20,83; 2012: 10,57; 2013: 8,95; 2020: 12,33). So sánh mức tăng nợ xấu và dự phòng của NHTM Việt Nam với các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
  • Kết quả hồi quy tác động của quản trị RRTD đến khả năng sinh lợi (Bảng 4.2): Tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLPR) có tác động tiêu cực, làm suy giảm ROA và ROE của ngân hàng; trong khi hệ số an toàn vốn (CAR) và quy mô (SIZE) hỗ trợ tích cực cho khả năng sinh lời.
  • Kết quả hồi quy tác động của khả năng sinh lợi đến ổn định tài chính (Bảng 4.3): Khả năng sinh lời (đặc biệt là ROA, ROE) tác động cùng chiều có ý nghĩa thống kê đến chỉ số Z-score trong giai đoạn 2006–2020, khẳng định lợi nhuận ổn định đóng vai trò như lớp đệm gia tăng sức chịu đựng tài chính của NHTM.
  • Kết quả hồi quy tác động trực tiếp của quản trị RRTD đến ổn định tài chính (Bảng 4.4): Nợ xấu gia tăng làm suy giảm trực tiếp chỉ số Z-score; việc trích lập dự phòng đầy đủ và duy trì CAR cao có vai trò củng cố tính ổn định tài chính của các ngân hàng.
  • Kết quả kiểm định mối quan hệ trung gian (Bảng 4.5): Phương pháp Monte Carlo xác nhận tồn tại tác động gián tiếp có ý nghĩa thống kê của quản trị RRTD đến tính ổn định tài chính thông qua biến trung gian là khả năng sinh lợi. Quản trị RRTD kém làm giảm lợi nhuận, từ đó kéo theo sự sụt giảm của chỉ số ổn định tài chính Z-score.

Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách

Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đối chiếu với Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 (ban hành ngày 08/8/2018):

  • Đưa ra hệ thống kết luận về các mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp đã được chứng minh qua mô hình.
  • Nêu rõ các đóng góp học thuật và thực tiễn của công trình.
  • Trình bày các hạn chế chưa thể giải quyết trọn vẹn trong khuôn khổ luận án và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Về mô hình và cách tiếp cận: Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện tại Việt Nam tích hợp đồng thời mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp giữa quản trị RRTD, khả năng sinh lợi và ổn định tài chính của ngân hàng. Việc đặt khả năng sinh lợi vào vị trí biến trung gian giúp làm sáng tỏ cơ chế truyền dẫn: quản trị RRTD không chỉ tác động cơ học đến ổn định tài chính mà còn thông qua kênh trung gian là khả năng tích lũy vốn và sinh lời nội tại của ngân hàng.
  • Về phương pháp nghiên cứu: Thay vì chỉ áp dụng các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng tuyến tính thông thường (Pooled OLS, FEM, REM), tác giả đã kết hợp phương pháp SGMM để giải quyết triệt để vấn đề nội sinh, đồng thời ứng dụng kỹ thuật mô phỏng Monte Carlo theo Iacobucci và cộng sự (2007) để xử lý sai số mô hình trong kiểm định mối quan hệ trung gian phi tuyến tính.
  • Về bối cảnh thực nghiệm: Luận án bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tính tương thích của các lý thuyết quản trị rủi ro ngân hàng (Pyle, 1999), lý thuyết thông tin bất cân xứng (Akerlof, 1970) và chuẩn mực Basel II tại một thị trường tài chính mới nổi có sự điều tiết, kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước như Việt Nam trong chuỗi thời gian dài 15 năm (2006–2020).

Gợi ý chính sách và giải pháp đề xuất

Luận án xây dựng hai nhóm khuyến nghị chính sách:

  • Gợi ý chính sách cho các nhà hoạch định chính sách (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước):
    • Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về trích lập dự phòng và phân loại nợ phù hợp với chuẩn mực quốc tế (Basel II, tiến tới Basel III).
    • Tăng cường cơ chế giám sát từ xa và kiểm tra tại chỗ đối với mức độ an toàn vốn (CAR) và tốc độ tăng trưởng tín dụng; kiểm soát chặt dòng vốn tín dụng chảy vào các lĩnh vực rủi ro cao.
    • Hoàn thiện cơ chế hoạt động của Công ty Quản lý tài sản (VAMC) để xử lý triệt để nợ xấu nội bảng và nợ xấu tiềm ẩn, củng cố tính thanh khoản và sự an toàn cho toàn hệ thống.
    • Phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động ngân hàng.
  • Gợi ý giải pháp cho các NHTM Việt Nam:
    • Chuẩn hóa quy trình cấp tín dụng và thẩm định theo 17 nguyên tắc của Basel II; nâng cấp hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (IRB) để đánh giá chính xác xác suất vỡ nợ của khách hàng.
    • Đa dạng hóa danh mục tín dụng theo Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại, tránh tập trung dư nợ quá mức vào các ngành có độ biến động cao.
    • Chủ động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ, coi dự phòng là lớp đệm tài chính tự bảo vệ trước các cú sốc bên ngoài.
    • Nâng cao năng lực tài chính, duy trì hệ số an toàn vốn (CAR) vượt mức tối thiểu quy định theo Lý thuyết bộ đệm vốn nhằm vừa bảo toàn vốn, vừa mở rộng khả năng sinh lợi một cách an toàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên phạm vi và nội dung được tác giả công bố trong văn bản, luận án tồn tại một số giới hạn:

  • Giới hạn về phạm vi nội dung đo lường ổn định: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu sự ổn định của ngân hàng ở góc độ ổn định tài chính thông qua chỉ số Z-score kế toán, chưa thể bao quát các khía cạnh ổn định phi tài chính khác như uy tín thương hiệu, mức độ tín nhiệm của người gửi tiền, chất lượng dịch vụ hoặc khả năng hấp thụ các cú sốc xã hội.
  • Giới hạn về mẫu quan sát: Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ 27 NHTM Việt Nam. Dù nhóm này đại diện cho hơn 85% tổng tài sản toàn hệ thống, mẫu nghiên cứu vẫn chưa bao gồm toàn bộ các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ, ngân hàng liên doanh hoặc các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
  • Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng bổ sung các chỉ số đo lường rủi ro và ổn định dựa trên dữ liệu thị trường (như khoảng cách đến điểm vỡ nợ Merton, rủi ro hệ thống CoVaR...) đối với các ngân hàng đã niêm yết cổ phiếu.
    • Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu để đánh giá sâu hơn tác động kéo dài của đại dịch COVID-19 và giai đoạn phục hồi kinh tế vĩ mô sau năm 2020.
    • Bổ sung xem xét các biến quản trị nội bộ chi tiết hơn như cơ cấu hội đồng quản trị, tính minh bạch thông tin hoặc mức độ chuyển đổi số trong quy trình quản trị rủi ro tín dụng.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng:
    • Luận án cung cấp hệ thống tổng quan tài liệu phong phú với hàng loạt lý thuyết nền tảng kinh điển (từ Markowitz, Modigliani - Miller, Jensen - Meckling đến Pyle, Merton, Alloway).
    • Phần đáng tham khảo nhất về mặt học thuật là quy trình thiết kế nghiên cứu thực nghiệm kết hợp phương pháp hồi quy dữ liệu bảng động (SGMM) và kỹ thuật mô phỏng Monte Carlo để kiểm định mô hình có biến trung gian.
  • Đối với giảng viên và các nhà nghiên cứu:
    • Cung cấp chuỗi số liệu thực tế về nợ xấu, trích lập dự phòng và chỉ số Z-score của 27 NHTM Việt Nam trong suốt 15 năm (2006–2020), làm tư liệu giảng dạy cho các học phần Quản trị ngân hàng thương mại và Quản trị rủi ro tài chính.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước:
    • Là cơ sở khoa học để đánh giá thực trạng hiệu quả của các chính sách tái cơ cấu ngân hàng (như Quyết định 254/QĐ-TTg, Chỉ thị 01/CT-NHNN) và triển khai Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng 2030.
  • Đối với ban điều hành và cán bộ quản trị rủi ro tại các NHTM:
    • Giúp nhận thức rõ mối quan hệ định lượng giữa chi phí trích lập dự phòng, nợ xấu với mức độ xói mòn lợi nhuận và đe dọa sự an toàn hệ thống, từ đó hỗ trợ việc xây dựng hạn mức tín dụng và chiến lược quản trị an toàn vốn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đo lường tính ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam bằng chỉ số nào?

Luận án sử dụng thước đo cơ sở kế toán là chỉ số Z-score (theo cách tiếp cận của Lepetit, 2008; Beck và Schepens, 2013; Rajhi và Hassairi, 2013; Sakarombe, 2018). Z-score thể hiện số lượng độ lệch chuẩn mà lợi nhuận của ngân hàng phải giảm xuống trước khi vốn chủ sở hữu bị xóa sạch, phản ánh khoảng cách đến ngưỡng vỡ nợ hay mất khả năng thanh toán. Z-score càng cao thể hiện ngân hàng càng ổn định và ngược lại.

2. Sự ổn định tài chính (Z-score) của các NHTM Việt Nam đã biến động như thế nào trong giai đoạn 2008–2020?

Số liệu tính toán từ báo cáo tài chính của các NHTM trong luận án chỉ ra Z-score biến động mạnh qua các mốc:

  • Năm 2008 (thời kỳ khủng hoảng toàn cầu): đạt 32,71, sau đó giảm mạnh xuống 20,83 vào năm 2009.
  • Năm 2010: phục hồi trở lại mức 32,37.
  • Giai đoạn 2012–2013 (tái cơ cấu và xử lý nợ xấu): giảm sâu xuống 10,57 (năm 2012) và chạm mức thấp 8,95 (năm 2013).
  • Giai đoạn hậu khủng hoảng: Z-score hồi phục trên mức 20.
  • Cuối năm 2020 (do ảnh hưởng của dịch bệnh làm nợ xấu tiềm ẩn gia tăng): Z-score của toàn hệ thống giảm xuống mức 12,33.

3. Biến trung gian trong mô hình nghiên cứu của luận án là biến nào và có ý nghĩa gì?

Biến trung gian được tác giả xác định là khả năng sinh lợi của ngân hàng (được đo lường chủ yếu qua ROA và ROE). Biến này đóng vai trò cầu nối giải thích cơ chế tác động gián tiếp: quản trị RRTD hiệu quả giúp giảm thiểu nợ xấu và chi phí trích lập dự phòng, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận ròng; nguồn lợi nhuận giữ lại này tiếp tục củng cố vốn chủ sở hữu, tạo ra bộ đệm vững chắc giúp gia tăng tính ổn định tài chính (Z-score) cho ngân hàng.

4. Luận án sử dụng phương pháp kỹ thuật nào để kiểm định biến trung gian?

Bên cạnh các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM, SGMM), luận án sử dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo theo đề xuất của Iacobucci và cộng sự (2007), Zhao và cộng sự (2010), Jose (2013) và Kenny (2016). Kỹ thuật này được lựa chọn nhằm khắc phục nhược điểm sai số mô hình lớn và kết quả không đầy đủ của các phương pháp hồi quy tuyến tính thông thường khi kiểm định mối quan hệ gián tiếp qua biến trung gian.

5. Dữ liệu thực nghiệm của luận án bao gồm những nguồn nào và có tính đại diện ra sao?

Luận án sử dụng dữ liệu vi mô thu thập từ báo cáo tài chính kiểm toán hợp nhất và báo cáo thường niên của 27 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 15 năm (2006–2020). Tính đến năm 2020, tổng tài sản của 27 ngân hàng này chiếm hơn 85% tổng tài sản của toàn hệ thống NHTM Việt Nam. Dữ liệu vĩ mô (tăng trưởng kinh tế GDP, lạm phát INF) được trích xuất từ cơ sở dữ liệu chỉ báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Tăng Mỹ Sang đã hoàn thành việc khảo sát, phân tích và lượng hóa tác động của quản trị rủi ro tín dụng đến tính ổn định tài chính của hệ thống các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2006–2020. Bằng việc kết hợp các mô hình hồi quy dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM, SGMM) và phương pháp mô phỏng Monte Carlo, nghiên cứu đã chứng minh rõ nét cả tác động trực tiếp lẫn tác động gián tiếp của công tác quản trị rủi ro tín dụng đến chỉ số Z-score thông qua biến trung gian là khả năng sinh lợi (ROA, ROE). Các kết quả thực nghiệm là căn cứ khoa học xác đáng hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước trong việc hoàn thiện chính sách giám sát an toàn vĩ mô, đồng thời cung cấp định hướng giải pháp cụ thể giúp các NHTM Việt Nam nâng cao năng lực thẩm định tín dụng, chủ động trích lập dự phòng và củng cố hệ số an toàn vốn nhằm duy trì sự ổn định tài chính bền vững.