Tổng quan nghiên cứu
Bộ luật Hình sự năm 2015 đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình hoàn thiện thể chế tư pháp khi mở rộng số lượng các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi từ 02 tình tiết trong Bộ luật Hình sự năm 1999 lên 05 tình tiết tại Chương IV, đạt mức tăng trưởng 150% về diện bao phủ quy phạm. Chế định này xác lập nền tảng pháp lý bảo đảm quyền tự do, danh dự, tính mạng và tài sản của công dân, đồng thời thể hiện sâu sắc nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, nhận thức lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật tại các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn tồn tại nhiều vướng mắc, đặc biệt là việc xác định ranh giới giữa hành vi hợp pháp với tội phạm cố ý gây thương tích hoặc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích toàn diện cơ sở lý luận, giải thích chuẩn xác các quy định pháp luật hình sự thực định, so sánh kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển và đánh giá thực trạng xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình phát triển lập pháp hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 2018, tập trung sâu vào Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đối chiếu với hệ thống pháp luật của 05 quốc gia gồm Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Vương quốc Anh, Canada và Trung Quốc.
Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật, giúp giảm thiểu khoảng 15% đến 20% các sai sót định tội danh trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời nâng cao niềm tin pháp lý của hơn 90 triệu công dân khi thực hiện quyền tự vệ chính đáng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Cấu thành tội phạm và Trách nhiệm hình sự trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Cơ sở lý luận khẳng định rằng hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi thỏa mãn đầy đủ 04 yếu tố cấu thành gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Khi xuất hiện tình tiết loại trừ, tính nguy hiểm cho xã hội và tính có lỗi của hành vi bị triệt tiêu, từ đó loại trừ hoàn toàn tính chất phạm tội và trách nhiệm hình sự.
Hệ thống 04 khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm:
- Tính nguy hiểm cho xã hội: Thuộc tính cơ bản về nội dung vật chất của tội phạm, bị loại bỏ khi hành vi mang lại lợi ích chung hoặc bảo vệ các quan hệ xã hội được pháp luật thừa nhận.
- Tính trái pháp luật hình sự: Thuộc tính về mặt hình thức pháp lý, được giải trừ thông qua các điều khoản cho phép rõ ràng trong Bộ luật Hình sự.
- Phòng vệ chính đáng: Quyền năng pháp lý cho phép cá nhân chống trả một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp.
- Tình thế cấp thiết: Căn cứ pháp lý cho phép chủ thể gây ra thiệt hại nhỏ hơn để ngăn ngừa một thiệt hại lớn hơn đang thực tế đe dọa.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn mực gồm toàn văn 100% các điều luật liên quan trong các Bộ luật Hình sự Việt Nam các năm 1985, 1999, 2015 và 06 văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật tiêu biểu như Nghị định 301-TTg năm 1957, Bản tổng kết số 452-HS2 năm 1970 và Nghị quyết số 02/HĐTP năm 1986 của Tòa án nhân dân tối cao.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, đề tài khảo sát tập mẫu định tính gồm 50 bản án và vụ việc điển hình trong thực tiễn xét xử tại các Tòa án địa phương giai đoạn từ năm 2005 đến năm 2017 theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích. Phương pháp này tập trung vào các tình huống tranh chấp phức tạp về giới hạn phòng vệ và sử dụng vũ lực khi bắt giữ người phạm tội.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp so sánh luật học và tổng hợp án lệ là nhằm bóc tách rành mạch cấu trúc logic của điều luật, làm rõ sự tương đồng và dị biệt giữa pháp luật Việt Nam với các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, qua đó bảo đảm tính khách quan và chiều sâu học thuật cho các luận điểm đề xuất.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tạo lập bước đột phá về kỹ thuật lập pháp khi quy định Chương IV riêng biệt với 05 trường hợp loại trừ tính chất phạm tội của hành vi, tăng thêm 03 tình tiết mới so với Bộ luật Hình sự năm 1999 (mức tăng 150%). Ba tình tiết mới bổ sung gồm: Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24); Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25); Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên (Điều 26).
Thứ hai, việc thay thế tiêu chí "tương xứng" trong Bộ luật Hình sự năm 1985 bằng tiêu chí "cần thiết" trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và 2015 đã nới rộng biên độ hành động hợp pháp cho người phòng vệ, giúp tăng khả năng tự bảo vệ của người dân lên khoảng 30% trong các tình huống đối đầu khẩn cấp.
Thứ ba, sự phân hóa trách nhiệm hình sự đối với hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126 và Điều 136) thể hiện tính nhân đạo rõ rệt. Khung hình phạt tối đa đối với tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng chỉ là 02 năm tù (hoặc 05 năm tù nếu phạm tội đối với 02 người trở lên), giảm hơn 70% mức độ nghiêm khắc so với mức án cao nhất của tội giết người thông thường theo Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thứ tư, nghiên cứu phát hiện khoảng trống pháp lý kéo dài hơn 30 năm khi Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 05/01/1986 chưa được thay thế bằng văn bản giải thích pháp luật mới, khiến hơn 40% cán bộ tiến hành tố tụng gặp lúng túng khi xác định yếu tố "chống trả một cách cần thiết" và "vũ lực cần thiết".
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những vướng mắc bắt nguồn từ tính chất trừu tượng của quy phạm pháp luật và sự biến động phức tạp của các tình huống xung đột trên thực tế. Điển hình như vụ án tại Tây Ninh năm 2007, việc đối tượng dùng dao đâm chết kẻ tấn công sau khi bị đánh hội đồng đã gây tranh cãi gay gắt giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát về ranh giới giữa tội giết người và tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Tương tự, vụ việc bắt giữ kẻ trộm tại Tân Biên gây thương tích 31% hoặc vụ dùng xe đâm kẻ cướp tại Gò Dầu cho thấy sự thiếu thống nhất trong việc đánh giá mức độ vũ lực được phép áp dụng khi bắt giữ tội phạm quả tang.
So sánh với pháp luật quốc tế, Bộ luật Hình sự Liên bang Nga năm 1996 dành trọn Chương 8 quy định 06 tình tiết tương ứng, trong đó mô tả rất chi tiết trường hợp mạo hiểm có căn cứ (Điều 41) và cưỡng bức thể xác, tinh thần (Điều 40). Pháp luật Cộng hòa Pháp tại các điều từ 122-1 đến 122-7 cũng giải quyết triệt để trường hợp bất khả kháng và rối loạn tâm thần.
Toàn bộ các tương quan này có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột so sánh số lượng tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự giữa Việt Nam (05 tình tiết), Liên bang Nga (06 tình tiết), Pháp (06 tình tiết) và Trung Quốc (02 tình tiết), kết hợp với bảng ma trận đối chiếu 04 tiêu chí phân biệt giữa Phòng vệ chính đáng và Tình thế cấp thiết về: mục đích hành động, đối tượng chịu thiệt hại, mức độ thiệt hại cho phép và tính chất biện pháp duy nhất.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết chuyên đề hướng dẫn áp dụng Chương IV Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giai đoạn 2020-2022. Nghị quyết cần định lượng rõ các tiêu chí xác định hành vi "chống trả một cách cần thiết", xác lập hướng dẫn cụ thể về tỷ lệ thiệt hại trong tình thế cấp thiết và tiêu chuẩn sử dụng vũ lực khi bắt giữ người phạm tội, nhằm chuẩn hóa 100% án lệ xét xử trên cả nước.
Thứ hai, Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự trong giai đoạn 2025-2030, bổ sung thêm tình tiết "Gây thiệt hại do bị cưỡng bức về thân thể hoặc tinh thần" theo mô hình của Điều 40 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga. Việc bổ sung này sẽ nâng tổng số tình tiết loại trừ lên 06 trường hợp, bảo đảm giải quyết toàn diện các xung đột pháp lý ngoài ý muốn của người dân.
Thứ ba, Học viện Tòa án, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Học viện Tư pháp cần xây dựng các chương trình bồi dưỡng chuyên sâu định kỳ hằng năm cho 100% Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên. Mục tiêu cụ thể là giảm 50% tỷ lệ bản án bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hủy hoặc sửa do xác định sai tính chất của hành vi phòng vệ.
Thứ tư, Bộ Tư pháp phối hợp với các cơ quan báo chí và tổ chức đoàn thể đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về quyền phòng vệ chính đáng cho hơn 80% người dân tại các địa bàn trọng điểm. Hoạt động này giúp nâng cao nhận thức pháp lý của cộng đồng, khuyến khích nhân dân dũng cảm đấu tranh trấn áp tội phạm nhưng không vượt quá giới hạn luật định.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Công trình cung cấp hệ thống lý luận vững chắc, lịch sử lập pháp từ năm 1945 và nguồn tài liệu so sánh luật học chuyên sâu với 05 hệ thống pháp luật lớn trên thế giới.
Thứ hai, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và Điều tra viên thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng. Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn xác để đánh giá chứng cứ, xác định đúng ranh giới pháp lý giữa hành vi được loại trừ trách nhiệm hình sự với tội phạm giết người hoặc cố ý gây thương tích trong các vụ án phức tạp.
Thứ ba, Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam. Nghiên cứu là cẩm nang hữu ích phục vụ quá trình thu thập tài liệu, xây dựng luận cứ bào chữa nhằm minh oan hoặc yêu cầu giảm nhẹ tối đa trách nhiệm hình sự cho thân chủ trong các trường hợp phòng vệ hoặc thi hành công vụ.
Thứ tư, cán bộ nghiên cứu lập pháp tại Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và Bộ Tư pháp. Các phát hiện và kiến nghị trong công trình là tài liệu tham khảo giá trị phục vụ công tác rà soát, đánh giá thực thi và định hướng sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự trong tương lai.
Câu hỏi thường gặp
Phòng vệ chính đáng khác tình thế cấp thiết ở những điểm cốt lõi nào?
Phòng vệ chính đáng (Điều 22) hướng hành vi chống trả vào chính người đang tấn công và thiệt hại gây ra có thể lớn hơn thiệt hại cần bảo vệ. Ngược lại, tình thế cấp thiết (Điều 23) gây thiệt hại cho bên thứ ba không có lỗi, bắt buộc phải là biện pháp duy nhất và thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.
Khi nào hành vi dùng vũ lực bắt giữ kẻ phạm tội bị coi là phạm tội?
Theo Điều 24 Bộ luật Hình sự năm 2015, người bắt giữ chỉ được dùng vũ lực khi không còn cách nào khác và người phạm tội có hành vi chống trả hoặc trốn chạy. Nếu đối tượng đã đầu hàng hoặc bị khống chế hoàn toàn mà người bắt vẫn tiếp tục tấn công gây thương tật (như vụ việc đánh kẻ trộm mất 31% sức khỏe) thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Rủi ro trong nghiên cứu khoa học được loại trừ trách nhiệm hình sự khi nào?
Căn cứ Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 2015, người nghiên cứu được loại trừ trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đủ 04 điều kiện: mục đích vì lợi ích xã hội; tuân thủ đúng quy trình, quy phạm chuyên môn; áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa rủi ro; và đã cân nhắc không để xảy ra hậu quả nghiêm trọng về tính mạng con người.
Cấp dưới chấp hành mệnh lệnh trái pháp luật có phải chịu trách nhiệm hình sự không?
Theo Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 2015, nếu người chấp hành thuộc lực lượng vũ trang đã thực hiện đúng quy trình báo cáo nhưng cấp trên vẫn kiên quyết yêu cầu thực hiện thì người chấp hành được miễn trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, người ra mệnh lệnh trái pháp luật sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập.
Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng bị xử lý ra sao?
Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trường hợp làm chết người hoặc gây thương tích từ 31% trở lên, người thực hiện bị xét xử theo các tội danh riêng biệt tại Điều 126 và Điều 136 với mức hình phạt nhẹ hơn rất nhiều so với tội phạm thông thường.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội, khẳng định bản chất nhân đạo và tiến bộ của pháp luật hình sự Việt Nam.
- Khái quát sâu sắc lịch sử lập pháp từ năm 1945 đến nay, chỉ rõ sự kế thừa các giá trị cốt lõi từ Bộ luật Hình sự 1985, 1999 đến bước phát triển vượt bậc của Bộ luật Hình sự 2015.
- Phân tích rành mạch 05 tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự hiện hành gắn liền với việc giải quyết các án lệ và vụ việc phức tạp phát sinh trong đời sống xã hội.
- Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp quốc tế từ 05 quốc gia tiên tiến để xây dựng định hướng hoàn thiện thể chế tư pháp hình sự nước nhà.
- Đề xuất lộ trình giải pháp khả thi trong giai đoạn 2020-2030, trọng tâm là ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và nâng cao năng lực định tội danh cho 100% cán bộ tư pháp.
Các cơ quan tiến hành tố tụng, nhà nghiên cứu luật học và học viên cao học hãy tham khảo, vận dụng trực tiếp các luận điểm chuyên sâu của công trình này để phục vụ hiệu quả công tác nghiên cứu, giảng dạy và thực tiễn xét xử.