Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LẬP PHÁP HÌNH SỰ VỀ CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ TÍNH CHẤT PHẠM TỘI CỦA HÀNH VI 1. Nhận thức chung về các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi 1. Khái niệm tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi 1. Các cách hiểu và tên gọi khác nhau về các tình tiết loại trừ tính chất phạm tội của hành vi Theo luật hình sự Việt Nam, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS.
Người (có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm) thực hiện hành vi đã được mô tả là tội phạm tại điều luật cụ thể của BLHS bị coi là người phạm tội và phải chịu TNHS về hành vi phạm tội đó. Khi thực hiện hành vi được mô tả trong BLHS, người thực hiện có thể bị những động cơ khác nhau thúc đẩy. Tính chất khác nhau của những động cơ này có ảnh hưởng khác nhau đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện - có thể làm tăng hoặc có thể làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đặc biệt, có trường hợp vì gắn với động cơ nhất định mà hành vi đã thực hiện trở thành hành vi cần thiết cho xã hội và do vậy cần được pháp luật cho phép.
Từ thực tế đó, PLHS Việt Nam cũng như PLHS của các quốc gia khác có chế định xác định những căn cứ cho phép công dân (có tính ngoại lệ) được thực hiện hành vi mà trong trường hợp bình thường, hành vi này bị coi là tội phạm. Hành vi đã thực hiện do được pháp luật cho phép nên không bị coi là tội phạm và vấn đề trách nhiệm hình sự không được đặt ra. Những căn cứ cho phép công dân được thực hiện các loại hành vi (có tính ngoại lệ) nói trên có tên gọi không giống nhau trong luật hình sự cũng như trong nghiên cứu ở các quốc gia. BLHS Việt Nam không có tên gọi chung cho nhóm căn cứ này mà chỉ có tên gọi cho từng căn cứ.
Trong sách báo pháp lý Việt Nam, nhóm căn cứ này từ trước đến nay thường được gọi là “Những tình tiết loại trừ tính chất 8 nguy hiểm cho xã hội của hành vi”. Bên cạnh đó, cũng có tài liệu sử dụng các tên gọi khác. Giáo trình luật hình sự - Phần chung của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội (2003) gọi đây là “các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự”. Tác giả của Giáo trình này cho rằng “TNHS là hậu quả pháp lý của trường hợp hành vi nguy hiểm bị coi là tội phạm và đối lập với TNHS là không có hay loại trừ TNHS, là hậu quả pháp lý của hành vi gây hậu quả về hình sự nhưng không bị coi là tội phạm” [9, tr.
Tác giả luận văn chọn cách gọi này vì nó “… xác định rõ ràng phạm vi điều chỉnh của luật hình sự, đồng thời phù hợp với nhận thức chung của cán bộ áp dụng pháp luật đã được thống nhất lâu nay ở nước ta” [24, tr. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của nhiều cơ sở đào tạo luật như trường Đại học Luật Hà Nội (2013), trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), trường Đại học Huế (2001) đều đặt tên cho nhóm các quy phạm này là: “Những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”. Sở dĩ tên gọi này được lựa chọn vì các tác giả cho rằng “hành vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây ra thiệt hại nhưng xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Do không có lỗi nên hành vi gây thiệt hại không bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm” [49, tr.
Các tác giả cho rằng, hành vi gây thiệt hại sẽ không phải chịu TNHS vì “xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội”. Do vậy, hành vi được thực hiện tuy gây thiệt hại nhưng không phải là tội phạm. Theo đó, “gốc” của vấn đề là tính chất nguy hiểm cho xã hội bị loại trừ. Từ đó, các tác giả đưa ra định nghĩa về những tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là “những tình tiết làm mất đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại nên được quy định trong luật hình sự để xác định những trường hợp bình thường là tội phạm nhưng không bị coi là tội phạm khi được thực hiện trong những điều kiện kèm theo tình tiết đó” [11, tr.
Như vậy, các tác giả đã xuất phát từ đặc điểm (dấu hiệu) về nội dung của tội phạm (tính nguy hiểm cho xã hội) khi đặt tên gọi riêng cho nhóm các quy phạm này. Ở đây, tính chất nguy 9 hiểm cho xã hội được hiểu bao gồm tính gây thiệt hại về khách quan và tính có lỗi về chủ quan. Nếu hiểu tính nguy hiểm cho xã hội chỉ là tính gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thì tên gọi trên đây sẽ không chính xác vì đặc điểm này “… của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện luôn tồn tại không phụ thuộc vào có hay không có tình tiết phòng vệ chính đáng hay tình thế cấp thiết” [12, tr. Khác với cách đặt tên trên đây, GS.
Lê Văn Cảm gọi các tình tiết đó là “Những trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi”. Trong cuốn “Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)”, tác giả cho rằng, “tính chất tội phạm của hành vi là phạm trù rộng hơn và bao trùm lên tất cả các tính chất khác - tính nguy hiểm cho xã hội, tính chất lỗi, và tính chất trái pháp luật hình sự” [5, tr. Theo đó, “những trường hợp (tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi là những tình tiết được điều chỉnh trong pháp luật hình sự mà khi có căn cứ do luật định thì việc gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự không bị coi là tội phạm và do vậy, người gây ra thiệt hại đó không phải chịu TNHS” [5; tr. Một tên gọi khác được GS.
Nguyễn Ngọc Hòa nêu trong cuốn “Tội phạm và cấu thành tội phạm” là “các căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm cho xã hội”. Cách gọi này xuất phát từ quan điểm cho rằng “hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong BLHS và không thuộc những trường hợp có căn cứ hợp pháp khác. Theo đó, hành vi đã thực hiện tuy được quy định trong BLHS nhưng vẫn không phải là tội phạm nếu chủ thể có căn cứ hợp pháp được quy định trong BLHS khi thực hiện hành vi này” [11, tr. Tác giả của tên gọi này cho rằng, các hành vi được quy định trong BLHS là các hành vi bị cấm nhưng một người vẫn có thể được quyền thực hiện những hành vi có tính gây thiệt hại đã được quy định đó trong trường hợp có căn cứ (tình tiết) nhất định được Bộ luật quy định.
Do vậy, những căn cứ (tình tiết) này được coi là các căn cứ hợp pháp của hành vi. Các căn cứ này làm cho hành vi đã thực hiện “.không còn tính trái pháp luật hình sự” [11, tr. 10 Sở dĩ có các tên gọi khác nhau về nhóm căn cứ này là do các tác giả đã gắn tên gọi với các khía cạnh khác nhau của nhóm căn cứ - khía cạnh nội dung và khái cạnh pháp lý [16, tr. Xét về nội dung, nhóm căn cứ này làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại và do vậy hành vi đã thực hiện không phải là tội phạm.
Hành vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây thiệt hại nhưng xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Ở đây có sự xung đột giữa lợi ích mà chủ thể thực hiện “cần bảo vệ” và “lợi ích khác” sẽ bị xâm phạm khi chủ thể thực hiện việc bảo vệ đó. Ví dụ: để bảo vệ tính mạng của mình đang bị người khác đe dọa xâm hại người phòng vệ buộc phải gây thương tích cho người đang thực hiện sự đe dọa đó. Trong trường hợp này, lợi ích mà người phòng vệ cần bảo vệ (sự an toàn tính mạng của mình) xung đột với “lợi ích khác” (sự an toàn sức khỏe của người tấn công) mà người phòng vệ buộc phải xâm phạm để bảo vệ lợi ích “cần bảo vệ” đó.
Khi lựa chọn hành vi gây thương tích cho người tấn công để bảo vệ tính mạng của mình trong tình huống xung đột lợi ích như vậy, chủ thể hành động tuy có gây thiệt hại về khách quan nhưng lại không có lỗi về chủ quan vì sự lựa chọn đó là hợp lý, xã hội có thể chấp nhận được. Do không có lỗi nên hành vi gây thiệt hại không bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Từ đó mà chúng ta có tên gọi: “Các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi”. Chọn và thực hiện hành vi gây thương tích cho người khác trong điều kiện bình thường là trường hợp cố ý gây thương tích và có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích nhưng khi gắn với tình tiết “phòng vệ” thì hành vi đó không thể là tội phạm vì tình tiết phòng vệ đã loại trừ tính có lỗi và qua đó loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thương tích [11, tr.
Xét về hình thức pháp lí, nhóm căn cứ làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại cần phải được quy định trong luật hình sự. Đó là trách nhiệm của cơ quan xây dựng luật. Trên cơ sở đánh giá các tình tiết có tính chất làm mất tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại, cơ quan xây dựng luật cần xác định các tình tiết cụ thể thuộc nhóm các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã 11 hội của hành vi gây thiệt hại và mô tả từng tình tiết này trong luật hình sự. Nói cách khác, các tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại cần phải được luật hóa để đảm bảo nguyên tắc pháp chế.