Chương 1: GIỚI THIỆU Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 8 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2. Khái niệm về tỷ giá hối đoái Tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là một khái niệm kinh tế có nguồn gốc từ nhu cầu trao đổi hàng hóa, dịch vụ phát sinh trực tiếp từ tiền tệ và quan hệ tiền tệ giữa các quốc gia/ khu vực. Vì vậy, TGHĐ giữ vai trò rất quan trọng trong thương mại quốc tế, thông qua TGHĐ người ta có thể so sánh giá cả hàng hóa, dịch vụ của các quốc gia trên thế giới với nhau. Theo nhà kinh tế học Mishkin (1994) cho rằng “The price of one currency in term of another is called the exchange rate” có nghĩa là “Giá của một đồng tiền tính theo một đồng tiền khác được gọi là tỷ giá hối đoái”.
Trong Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010) được thông qua ngày 16/06/2010, Điều 6, khoản 5 ghi rõ “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”. Từ khái niệm trên có thể hiểu một cách tổng quát TGHĐ là tỷ lệ chuyển đổi, tỷ lệ so sánh của đơn vị tiền tệ này với đơn vị tiền tệ khác giữa các quốc gia/ khu vực trên thế giới. Hiện nay, TGHĐ được niêm yết theo hai phương pháp chính như sau: - Phương pháp yết giá trực tiếp: Có nghĩa là đồng nội tệ sẽ đóng vai trò là đồng yết giá và có đơn vị cố định là một đơn vị, còn đồng ngoại tệ đóng vai trò là đồng định giá, có số đơn vị thay đổi dựa theo thay đổi trên thị trường ngoại hối. Ví dụ tại Anh sẽ yết giá như sau: 1 GBP = 1.
- Phương pháp yết giá gián tiếp: Đây là cách yết giá tại quốc gia sở hữu đồng tiền yếu. Khi đó đồng ngoại tệ sẽ đóng vai trò đồng yết giá, còn đồng nội tệ của quốc gia đó sẽ là đồng định giá. Ví dụ tại Việt Nam sẽ yết giá là 1 USD = 23. 9 Trong phạm vi nghiên cứu này, TGHĐ sẽ được hiểu theo cách viết trên thị trường ngoại hối tại Việt Nam (USD/VND = 23.197 nghĩa là 1 USD = 23.197 VND), Indonesia (USD/IDR = 14,582 nghĩa là 1 USD = 14,582 IDR), Malaysia (USD/MYR = 4,2 nghĩa là 1 USD = 4,2 MYR), Philippines (USD/PHP = 49,62 nghĩa là 1 USD = 49,62 PHP), Singapore (USD/SGD = 1,379 nghĩa là 1 USD = 1,379 SGD), Thái Lan (USD/THB = 31,29 nghĩa là 1 USD = 31,29 THB), Hồng Kông (Trung Quốc) (USD/HKD = 7,85 nghĩa là 1USD = 7,85 HKD), Nhật Bản (USD/JPY = 106,77 nghĩa là 1 USD = 106,77 JPY), Hàn Quốc (USD/KRW = 1.180,266 nghĩa là 1 USD = 1.
Nếu tỷ giá này tăng thì tiền nội tệ sẽ giảm giá so với đồng đô la Mỹ và ngược lại khi tỷ giá này giảm thì tiền nội tệ sẽ tăng giá so với đồng đô la Mỹ. Chính sách tỷ giá hối đoái 2. Khái niệm và mục tiêu của chính sách tỷ giá hối đoái Chính sách Tỷ giá hối đoái luôn song hành cùng chính sách tiền tệ (CSTT) của mỗi quốc gia, nó bao gồm các hoạt động của chính phủ thông qua cơ chế điều hành TGHĐ và hệ thống các công cụ can thiệp nhằm đạt được một TGHĐ nhất định và có ảnh hưởng lớn đến các hoạt động xuất nhập khẩu tại quốc gia đó. TGHĐ có tác động tương đối lớn đến nền kinh tế đặc biệt là các quốc gia lấy xuất khẩu làm động lực tăng trưởng kinh tế như Việt Nam.
Vì vậy, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) sâu rộng như hiện nay, các quốc gia luôn sử dụng TGHĐ như một công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa tại quốc gia đó. Một chính sách TGHĐ cần phải nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thiết lập một cái neo rõ ràng và đáng tin cậy nhằm ổn định mức giá trong nước và ổn định thị trường tài chính. Song song, chính sách TGHĐ cũng phải chú trọng đến việc duy trì khả năng cạnh tranh quốc tế cho hàng hóa xuất khẩu, vì thế nó gắn với các biến số về tăng trưởng kinh tế. Từ đó, có thể khái quát được mục tiêu của chính sách TGHĐ như sau: 10 - Ổn định sức mua của đồng nội tệ: Nếu giả định các yếu tố khác không đổi, thì khi TGHĐ tăng, sẽ làm cho hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn và làm cho mặt bằng giá cả chung của nền kinh tế tăng, đây là một trong những nguyên nhân gây ra lạm phát.
Điều này có thể thấy được từ công thức dưới đây, nếu gọi P là mức giá cả chung của nền kinh tế, thì P được tính như sau: P = α𝑃 + (1 – α).P*, Trong đó: α là tỷ trọng hàng hóa sản xuất tiêu dùng trong nước (non – traded products) (1-α) là tỷ trọng hàng hóa nhập khẩu E là tỷ giá hối đoái 𝑃 là mức giá hàng hóa sản xuất trong nước tính bằng nội tệ P* là giá hàng hóa nhập khẩu Với giả định các yếu tố khác không đổi, thì khi Ngân hàng Trung Ương (NHTƯ) nâng giá nội tệ hay phá giá nội tệ sẽ tác động đến mức giá chung của nền kinh tế. Khi lạm phát tăng cao sẽ khiến cho sức mua của đồng nội tệ giảm, nếu như TGHĐ không đổi, sẽ đưa đến áp lực làm cho hàng hóa trong nước đắt hơn hàng hóa bên ngoài, điều đó làm cho nhập khẩu tăng và làm mất cân bằng cán cân thương mại, tiếp theo sẽ là thiếu hụt ngoại tệ. Để không diễn ra tình trạng này, thì phải bắt buộc có sự thay đổi của TGHĐ, chính xác trong trường hợp này là sự điều chỉnh giảm giá của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. - Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường xuất khẩu: Với giả định các điều kiện khác không đổi, khi NHTƯ phá giá đồng nội tệ sẽ kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
Điều này trực tiếp làm tăng thu nhập quốc dân, từ công thức sau có thể thấy rõ điều này: Y = C + I + G + (X – M), Trong đó: Y là thu nhập quốc dân, C là tiêu dùng, I là đầu tư, G là chi tiêu của chính phủ, X là xuất khẩu, M là nhập khẩu. 11 Khi X tăng thì Y sẽ tăng và ngược lại. Tuy nhiên, để có được điều này thì cần có điều kiện tiên quyết trong nền kinh tế như năng lực sản xuất hàng xuất khẩu, hàng thay thế hàng nhập khẩu và thị trường cho hàng xuất khẩu. - Cân bằng cán cân thương mại: TGHĐ là một công cụ vĩ mô để điều tiết cán cân thương mại (CCTM) quốc tế theo mục tiêu đã định trước của một quốc gia.
Việc thay đổi TGHĐ sẽ làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực, các doanh nghiệp có thu chi ngoại tệ, từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế. Với chính sách định giá đồng nội tệ thấp có thể giúp đưa CCTM từ trạng thái thâm hụt về cân bằng thông qua tăng cường xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Mặt khác, khi chính sách TGHĐ định giá đồng nội tệ cao thì sẽ có tác dụng ngược với CCTM. Tuy nhiên, chính sách TGHĐ thường chỉ liên quan đến khối lượng xuất nhập khẩu mà không liên quan đến giá trị xuất khẩu.
Nội dung của chính sách tỷ giá hối đoái Để đạt được những mục tiêu trên thì chính sách TGHĐ cần chú trọng hai việc quan trọng là lựa chọn chế độ TGHĐ và các công cụ can thiệp vào TGHĐ hợp lý trong từng thời kỳ để điều chỉnh TGHĐ cho phù hợp. Để duy trì một TGHĐ hợp lý hay để TGHĐ biến động theo thị trường trong trường hợp cần thiết, NHTƯ cần phải có một chế độ TGHĐ rõ ràng và một hệ thống các công cụ can thiệp thích hợp. Chế độ tỷ giá hối đoái: Các quốc gia luôn xây dựng những quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết TGHĐ của riêng mình. Vì vậy, chế độ TGHĐ là tập hợp các nguyên tắc, cơ chế xác định và điều tiết TGHĐ của NHTƯ nhằm điều tiết, quản lý nội tệ trong mối quan hệ với các đồng ngoại tệ.
Theo International Monetary Fund (2004) (Qũy tiền tệ quốc tế - IMF) dựa trên cơ sở cơ chế TGHĐ thực tế của các nước thành viên đã phân loại chế độ TGHĐ của các quốc gia thành bảy nhóm. Hệ thống phân loại này được xây dựng dựa từ những thông tin về bản chất của các chính sách TGHĐ thông qua thỏa thuận song phương với từng quốc gia, qua hệ thống báo cáo, qua các nghiên cứu về biến 12 động TGHĐ và lượng dự trữ ngoại tệ của các quốc gia thành viên. Bảy nhóm chế độ TGHĐ bao gồm: - Hệ thống tiền tệ không có đồng tiền pháp định riêng: Các quốc gia áp dụng chế độ tiền tệ này thường là thành viên của một liên minh tiền tệ, chính sách tiền tệ của các quốc gia này sẽ chịu sự chi phối của chính sách tiền tệ của quốc gia phát hành đồng tiền pháp định đó, đồng nghĩa với việc không có khả năng thực thi chính sách tiền tệ độc lập. - Hội đồng tiền tệ: Đây có thể coi là chế độ tỷ giá hối đoái cố định, một quốc gia sẽ cam kết công khai việc sẽ cố định tỷ giá hối đoái của đồng tiền quốc gia đó với một đồng ngoại tệ nào đó.
Ngân hàng Trung Ương sẽ phải điều chỉnh mức cung tiền để giữ cho mức tỷ giá hối đoái cố định. Điều này đồng nghĩa, đồng nội tệ sẽ chỉ được phát hành khi có một lượng tài sản bằng ngoại tệ tương ứng. Trong trường hợp này, Ngân hàng Trung Ương sẽ không thực hiện chức năng là người cho vay cuối cùng và cũng không có quyền tự quyết định chính sách tiền tệ của mình. Tuy nhiên, tỷ giá hối đoái vẫn có thể được điều chỉnh trong một khung dao động theo quy định của hội đồng tiền tệ.
- Chế độ tỷ giá hối đoái cố định: Trường hợp này thì đồng nội tệ được neo với một hoặc một rổ tiền tệ (rổ tiền tệ thường được bao gồm đồng tiền của các quốc gia là đối tác thương mại chính). Tỷ giá hối đoái được phép dao động trong một biên độ hẹp trong mức +/-1% xung quay tỷ giá hối đoái trung tâm do Ngân hàng Trung Ương công bố.