chương 1, tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu ở ngoài và các nghiên cứu tại Việt Nam liên quan đến: (1) nghiên cứu các nhân tố có tác động đến việc vận dụng chuẩn mức kế toán nói chung trong doanh nghiệp và (2) nghiên cứu các nhân tố có tác động đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán thuế TNDN trong doanh nghiệp. Sau đó, tác giả phân tích và chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu mà luận văn này dự kiến thực hiện. Các nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về việc áp dụng chuẩn mực kế toán và các nhân tố tác động đến việc áp dụng các chuẩn mực này. Nghiên cứu của Joshi & Ramadhan (2002): Nghiên cứu này xem xét các thực hành kế toán và mức độ áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) của các công ty nhỏ và vừa ở Bahrain.
Phương pháp khảo sát được sử dụng trong nghiên cứu này để thu thập dữ liệu và sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả là chính yếu trong phần phân tích dữ liệu. Việc áp dụng IAS được đo lường thông qua 5 biến quan sát liên quan đến việc áp dụng IAS trong việc lập bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập, báo cáo lưu chuyển tiền, thuyết minh báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán báo cáo tài chính. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 86% các công ty trong mẫu khảo sát trả lời rằng họ đã áp dụng IAS và họ đều cho rằng việc áp dụng IAS rất phù hợp với công ty của họ. Khi khảo sát các nhân tố có ảnh hưởng đến việc vận dụng IAS, kết quả phân tích cho thấy yếu tố kiểm toán độc lập có ảnh hưởng quan trọng.
Hơn nữa, kết quả cho rằng đội ngũ kế toán có trình độ càng cao thì khả năng nhận thức các chuẩn mực kế toán càng dễ dàng và việc áp dụng chuẩn mực vào thực tế ít gặp khó khăn hơn so với người trình độ thấp. Joshi & Ramadhan (2002) không hình thành mô hình nghiên cứu mà chỉ dừng lại ở việc thống kê mô tả và phân tích để làm cơ sở cho các lập luận. Nghiên cứu của Zeghal & Mhedhbi (2006) đã tìm hiểu những nhân tố có ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) tại các nước đang phát triển. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng logistic, cụ thể sử dụng phép kiểm định T để kiểm tra những nhân tố 7 trên có ảnh hưởng đến áp dụng IAS.
Đơn vị phân tích trong nghiên cứu là quốc gia. Thang đo của việc áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế được đo lường bằng thnag đo thứ bậc với giá trị 1 là quốc gia đã áp dụng IAS và giá trị 0 với quốc gia chưa áp dụng IAS. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS là tăng trưởng kinh tế, trình độ học vấn, mức độ sự mở cửa kinh tế đối ngoại, văn hóa và sự tác động của thị trường vốn. Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS nói chung mà không đề cập đến nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng IAS 12 cụ thể như thế nào.
Mô hình nghiên cứu được trình bày tại Sơ đồ 1.1: Mô hình nghiên cứu của Zeghal & Mhedhbi (2006) Nghiên cứu của Ebrahim & Fattah (2015): nghiên cứu này hướng đến mục tiêu tìm hiểu tác động của các nhân tố thuộc quản trị công ty và chất lượng kiểm toán độc lập đến việc tuân thủ chuẩn mực kế toán thuế TNDN theo IAS 12 trong các công ty cổ phần niêm yết tại Ai Cập. Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng là phương pháp định lượng dùng hồi quy logistic thứ bậc. Thang đo việc tuân thủ chuẩn mực kế toán thuế TNDN theo IAS 12 là thang đo thứ bậc gồm hai giá trị: 1 là các công ty trong mẫu khảo sát ghi nhận chi phí thuế thu nhập hoãn lại trong năm và 0 là nếu các công ty trong mẫu khảo sát không ghi nhận chi phí thuế thu nhập hoãn lại trong năm. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố quản 8 trị công ty (cụ thể là chỉ có hai yếu tố là quyền sở hữu tổ chức – là quyền sở hữu bởi các thành phần kinh tế không phải là nhà nước và các thành viên nước ngoài trong hội đồng quản trị) và chất lượng kiểm toán độc lập có tác động tích cực đến việc tuân thủ chuẩn mực kế toán thuế TNDN theo IAS 12 trong các doanh nghiệp tại Ai Cập.
Theo đó, các công ty có mức sở hữu bởi các thành phần kinh tế khác cao hơn so với quyền sở hữu của nhà nước và số người đại diện trong hội đồng quản trị là người nước ngoài nhiều hơn thì các công ty này có nhiều khả năng thuê một công ty kiểm toán quốc tế lớn và khi đó việc tuân thủ các yêu cầu công nhận và công bố thông tin của IFRS của các công ty này sẽ tốt hơn. Mô hình nghiên cứu mà Ebrahim & Fattah (2015) đề xuất được trình bày tại Sơ đồ 1.2: Mô hình nghiên cứu của Ebrahim & Fattah (2015) 9 Nghiên cứu của Azmi, Sapiei, Mustapha & Abdullah (2016): Nghiên cứu này hướng đến việc xem xét các yếu tố có tác động việc áp dụng hệ thống kế toán tuân thủ thuế (tập trung vào thuế giá trị gia tăng) của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở Malaysia. Nghiên cứu này sử dụng khung khái niệm về mối quan hệ giữa các yếu tố công nghệ - các yếu tố tổ chức – các yếu tố môi trường (TOE) để xem xét các yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc áp dụng hệ thống kế toán tuân thủ thuế. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng xem xét vai trò điều tiết của yếu tố chi phí tuân thủ thuế trong việc thúc đẩy việc áp dụng hệ thống kế toán tuân thủ thuế.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã phát bảng hỏi cho 401 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Malaysia. Dữ liệu sau đó được phân tích bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS) để ước lượng các mối quan hệ trong mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM). Việc áp dụng hệ thống kế toán tuân thủ thuế giá trị gia tăng được đo lường bằng 3 biến quan sát. Mỗi câu hỏi yêu cầu người trả lời cho biết tình trạng chấp nhận của họ (cho dù họ đồng ý hay không đồng ý trên thang điểm Likert 5 điểm, với 1 là rất không đồng ý và 5 là rất đồng ý).
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố công nghệ (gồm sự tương thích, sự phức tạp và lợi thế tương đối được nhận thức), các yếu tố tổ chức (cụ thể là mức độ tổ chức học hỏi được từ các nguồn bên ngoài được nhận thức), các yếu tố môi trường (gồm áp lực cưỡng chế, áp lực bắt chước và áp lực quy chuẩn được nhận thức) và chi phí tuân thủ thuế có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng hệ thống kế toán tuân thủ thuế giá trị gia tăng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy rằng tác động của tính tương thích của yếu tố công nghệ, mức độ tổ chức học hỏi được từ các nguồn bên ngoài và áp lực cưỡng chế của yếu tố môi trường đối với việc áp dụng kế toán tuân thủ thuế giá trị gia tăng được điều tiết bởi chi phí tuân thủ thuế. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại Sơ đồ 1.3: Mô hình nghiên cứu của Azmi, Sapiei, Mustapha & Abdullah (2016) Nghiên cứu của Mnif & Znazen (2020): Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra tác động của các đặc điểm của hai cơ chế quản trị công ty, cụ thể là hội đồng quản trị và ủy ban kiểm toán đến mức độ tuân thủ Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế số 7 (IFRS 7) liên quan đến công cụ tài chính. Nghiên cứu này đo lường việc tuân thủ IFRS 7 của 63 tổ chức tài chính Canada được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Toronto trong khoảng thời gian ba năm (2014-2016).
Theo đó, việc tuân thủ IFRS 7 được các tác giả đo lường bằng 128 mục tự xây dựng dựa vào tài liệu hướng dẫn của IASB và IFRS 7. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng là phương pháp hồi quy dữ liệu bảng. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tuân thủ trung bình đối với các yêu cầu của IFRS 7 là khoảng 77% và xác định các lĩnh vực không tuân thủ là khác nhau. Hơn nữa, quy mô của hội đồng quản trị và tính độc lập của hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến việc tuân thủ IFRS 7.
Tương tự, tính độc lập và chuyên môn kế toán tài chính của ủy ban kiểm toán được chứng minh là có ảnh hưởng tích cực đến việc tuân thủ IFRS 7. Tuy nhiên, tính hai mặt của Giám đốc điều hành/Chủ tịch hội đồng quản trị (tức là, Giám đốc điều hành có kiêm nhiệm vị trí Chủ tịch hội đồng quản trị hay không), quy mô của ủy ban kiểm toán và tần suất họp của ủy ban 11 kiểm toán không có mối tương quan đáng kể với mức độ tuân thủ IFRS 7. Mô hình nghiên cứu được trình bày tại Sơ đồ 1.4: Mô hình nghiên cứu của Mnif & Znazen (2020) 1. Các nghiên cứu trong nước Phạm Quốc Thuần (2011) phân tích sự khác nhau về quan điểm của thuế và kế toán trong việc xử lý các khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái của các khoản mục tiền và nợ phải thu vào thời điểm cuối năm đã gây nên sự khác biệt giữa chi phí thuế TNDN hoãn lại và chi phí thuế TNDN hiện hành.
Để thông tin kế toán được trung thực và hợp lý cũng như đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp kế toán cần phải ghi nhận ảnh hưởng của thuế TNDN đối với khoản chênh lệch này. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số giải pháp như cơ quan quản lý cần phải có văn bản quy định rõ ràng việc xử lý khoản chênh lệch ngoại tệ, hoàn thiện luật thuế TNDN trong việc xử lý chênh lệch ngoại tệ. để đảm bảo quyền lợi cho cơ quan quản lý và cho cả doanh nghiệp. Đoàn Ngọc Phi Anh và Cao Thị Hoa (2016) đã xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chuẩn mực kế toán thuế TNDN tại Việt Nam.
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng kết hợp phương pháp định tính và phương pháp định lượng để đưa ra kết quả nghiên cứu.