phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 5 chƣơng: 123doc 5 Chƣơng 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU. Giới thiệu tổng quan các nghiên cứu về BSC tại Việt Nam và trên thế giới, từ đó rút ra nhận xét về tình hình nghiên cứu và nêu lên định hƣớng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Chƣơng 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT. Trình bày lý thuyết nền tảng về BSC, tổng kết các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cho đề tài.
Bên cạnh đó, tác giải cũng trình bày các lý thuyết làm nền tảng cho mô hình nghiên cứu. Chƣơng 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Trình bày phƣơng pháp nghiên cứu gồm có nghiên cứu sơ bộ theo phƣơng pháp nghiên cứucđịnh tính và nghiên cứu chính thức theo phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng. Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Trình bày kết quả khảo sát và phân tích kết quả đạt đƣợc. Chƣơng 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. Trình bày kết luận của luận văn, đƣa ra một số kiến nghị để việc vận dụng BSC trong các công ty niêm yết tại TP. Hồ Chí Minh đƣợc tốt hơn.
Đồng thời, tác giả cũng nêu ra những hạn chế của luận văn và một số định hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai. 123doc 6 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chƣơng 1, tác giả mong muốn cung cấp một cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu trƣớc đây ở trong và ngoài nƣớc về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC nói riêng và vận dụng KTQT trong các công ty nói chung. Từ đó xác định lỗ hổng nghiên cứu và nêu định hƣớng nghiên cứu của tác giả.
Nghiên cứu nƣớc ngoài Năm 1992, Robert Kaplan và David Norton đã giới thiệu bảng điểm cân bằng - BSC trong một bài báo đƣợc đăng trên tạp chí Harvard Business Review. Trải qua 25 năm nghiên cứu và phát triển, đã có rất nhiều bài viết về BSC với nhiều phƣơng pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích khác nhau. Có thể kể đến các nghiên cứu sau đây: Nghiên cứu của Zahirul Hoque và Wendy James (2000): “Linking balanced scorecard measures to size and market factors: Impact on organiza- tional performance”. Tác giả đã nghiên cứu ảnh hƣởng của (1) quy mô doanh nghiệp, (2) vòng đời sản phẩm và (3) thị phần đến việc sử dụng BSC trong đo lƣờng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Bài viết sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng thông qua bảng câu hỏi khảo sát. Tác giả đã khảo sát 66 công ty sản xuất ở Úc vào tháng 07 năm 1997. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có quy mô lớn có nhiều khả năng sử dụng BSC hơn, các công ty có tỷ lệ các sản phẩm đang ở giai đoạn đầu của vòng đời sản phẩm nhiều hơn có xu hƣớng sử dụng BSC liên quan đến các sản phẩm mới hơn nhiều hơn và thị phần không liên quan đáng kể đến việc sử dụng BSC. Ngoài những điều đạt đƣợc, bài viết này cũng có các giới hạn là chỉ khảo sát trong các công ty sản xuất và quy mô mẫu nghiên cứu tƣơng đối nhỏ.
Đáng chú ý là công cụ để đo lƣờng việc sử dụng BSC vẫn chƣa tìm đƣợc mối liên kết chiến lƣợc của BSC và liên kết nhân quả. Luận văn thạc sĩ của Eric Tanyi (2011) tại trƣờng Kinh tế Hanken – Phần Lan với tiêu đề: “Factors influencing the use of the balanced scorecards by managers”. Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng thông qua bảng 123doc 7 câu hỏi kháo sát. Mẫu nghiên cứu gồm 34 nhà quản trị đang sử dụng BSC tại Phần Lan.
Sử dụng BSC chịu ảnh hƣởng của các yếu tố là: Các hệ thống kiểm soát khác (OCS) sử dụng trong tổ chức, cách quản lý đánh giá cấp dƣới (ESM), cách nhà quản lý nhận thức thông tin từ các nguồn mới (MRI) và tác động của nhận thức về sự hữu ích (PU) và dễ sử dụng (PEOU). Kết quả cho thấy cách nhà quản lý nhận thức thông tin từ các nguồn mới (MRI) và nhận thức dễ sử dụng (PEOU) của hệ thống BSC ảnh hƣởng đến việc sử dụng BSC. Nghiên cứu của Islam và cộng sự (2014): “Factors affecting balanced scorecard usage”. Nghiên cứu này sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng thông qua bảng câu hỏi khảo sát.
Đối tƣợng đƣợc khảo sát là các nhà quản lý trong các công ty vừa và lớn (với doanh thu từ 1 triệu Đô la Mỹ/ năm trở lên và số lƣợng nhân viên từ 200-300) ở Mỹ và Canada, tác giả đã nhận đƣợc 71 bảng khảo sát hợp lệ. Dựa vào lý thuyết của mô hình chấp nhận công nghệ (TAM - Technology Acceptance Model), tác giả đƣa ra 3 nhân tố tác động đến việc vận dụng BSC là: (1) nhận thức về khả năng của BSC, (2) nhận thức về tính dễ sử dụng và (3) nhận thức về sự hữu ích của BSC. Kết quả cho thấy cả 3 nhân tố đều ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC. Trong đó, nhận thức về khả năng của BSC tác động mạnh nhất, nhận thức về tính dễ sử dụng của BSC có mức ảnh hƣởng cao thứ hai và nhận thức về sự hữu ích có mức ảnh hƣởng cao thứ ba.
Điều đó cho thấy, khi quyết định sử dụng BSC thì ngƣời ta xem xét khả năng của BSC đầu tiên, sau đó xem xét xem BSC có dễ sử dụng hay không và cuối cùng là xem xét BSC hữu ích nhƣ thế nào. Nghiên cứu của Zahirul Hoque (2014): “20 years of studies on the balanced scorecard: Trends, accomplishments, gaps and opportunities for future research”. Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính. Tác giả đã tổng kết, đánh giá các nghiên cứu về BSC trong khoảng thời gian 20 năm, từ khi đƣợc giới thiệu năm 1992 đến 2011.
Tác giả đã xem xét 114 bài viết xuất bản trong 25 tạp chí kế toán và 67 bài báo trong các tạp chí kinh doanh và quản lý. Tất cả các bài báo này đƣợc phân loại theo từng chủ đề, thiết lập nghiên cứu, lý thuyết, phƣơng pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích dữ liệu. Thêm vào đó, tác giả 123doc 8 còn thảo luận những đóng góp và bài học rút ra từ các nghiên cứu, qua đó xác định lỗ hổng nghiên cứu và đƣa ra một vài hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai. Một số hƣớng nghiên cứu trong tƣơng lai mà tác giả nêu ra nhƣ sau: (1) Phân tích và trình bày cách thức tổ chức và vận dụng BSC thành công trong một tổ chức nhất định để có cái nhìn cụ thể hơn; (2) Nghiên cứu và so sánh sự thành công và thất bại trong việc vận dụng BSC; (3) Kết hợp các thƣớc đo chủ quan và khách quan về hiệu suất khi nghiên cứu về sự hiệu quả của BSC; (4) Các nghiên cứu sau này nên sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu kết hợp giữ phƣơng pháp định tính và định lƣợng vì phƣơng pháp này có thể nâng cao tính chính xác của các đánh giá khi thu thập các loại dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau.
Nghiên cứu của Carol Chepng’eno Koske and Willy Muturi (2015): “Factors affecting application of balanced score card: A case study of non governmental organizations in Eldoret, Kenya”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nhận diện và định lƣợng các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC trong các tổ chức phi chính phủ tại Kenya. Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng thông qua bảng khảo sát để thu thập dữ liệu. Mẫu gồm 55 ngƣời trong ban quản lý và nhân viên trong 11 tổ chức phi chính phủ ở thị trấn Eldoret, Kenya.
Tác giả đã đƣa ra 4 nhân tố tác động đến việc vận dụng BSC trong các tổ chức phi chính phủ là: quy mô công ty, nhận thức về lợi ích của BSC, chi phí tổ chức BSC và tính dễ sử dụng của BSC. Kết quả cho thấy tất cả các nhân tố nêu trên đều ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC. Nghiên cứu của Patrícia Rodrigues Quesado và cộng sự (2016): “Extrinsic and intrinsic factors in the Balanced Scorecard adoption: An empirical study in Portuguese organizations”. Nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữ các nhân tố bên ngoài và bên trong tổ chức ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC của các công ty thuộc sở hữu tƣ nhân tại Bồ Đào Nha.
Nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính để xác định các nhân tố tác động đến việc vận dụng BSC và phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng để đo lƣờng mức độ tác động của các nhân tố. Mẫu khảo sát là 155 công ty sở hữu tƣ nhân tại Bồ Đào Nha. Tác giả đã 123doc 9 tổng hợp các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC trong mô hình nghiên cứu là: (1) tuổi của doanh nghiệp; (2) Mức độ đa dạng của sản phẩm/ dịch vụ; (3) loại hình kiểm soát (gia đình/ không gia đình); (4) tầm quan trọng của vốn nƣớc ngoài trong cơ cấu quyền sở hữu; (5) mức độ quốc tế hoá và (6) quy mô tổ chức. Sau khi nhận đƣợc các câu trả lời hợp lệ từ 155 công ty thuộc sở hữu tƣ nhân ở Bồ Đào Nha, tác giả đã đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các nhân tố và thu đƣợc kết quả nhƣ sau: mức độ đa dạng về sản phẩm/ dịch vụ của công ty, tầm quan trọng của vốn nƣớc ngoài trong cơ cấu quyền sở hữu và quy mô của công ty ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC; trong khi đó, tuổi doanh nghiệp, loại hình kiểm soát, mức độ quốc tế hóa của tổ chức không ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC.
Nghiên cứu cũng có giới hạn là mẫu nghiên cứu nhỏ nên chƣa mang tính khái quát cao, và việc gửi bảng câu hỏi qua đƣờng bƣu điện không mang lại hiệu quả nhƣ mong đợi. Nghiên cứu trong nƣớc Tại Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu về BSC, chủ yếu về việc ứng dụng triển khai BSC tại một tổ chức cụ thể, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ: ngân hàng, doanh nghiệp, trƣờng học,… Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC còn tƣơng đối ít, vì vậy, ngoài các nghiên cứu về nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng BSC nói riêng, tác giả sẽ xem xét trên phƣơng diện rộng hơn về các nhân tố ảnh hƣởng đến việc vận dụng kế toán quản trị nói chung. Luận văn thạc sĩ của Ngô Bá Phong (2013): “Ứng dụng thẻ cân bằng điểm để đánh giá thành quả hoạt động tại công ty TNHH Kiểm Toán AS”. Nghiên cứu này sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính nhƣ: quan sát, phỏng vấn, thống kê, so sánh, tổng hợp,….