Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu: Trình bày lý do dẫn đến chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu nhằm giới thiệu khái quát về nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Trình bày cơ sở lý thuyết của nghiên cứu, đặt cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích: Trình bày quy trình thực hiện nghiên cứu. Đó là khám phá và khẳng định các thành phần của chất lượng dịch vụ giao nhận container; xây dựng thang đo; thiết kế mẫu nghiên cứu, thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày quá trình và kết quả phân tích dữ liệu nghiên cứu bao gồm kết quả đánh giá sơ bộ thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi qui mô hình lý thuyết, các giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả sau nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị trình bày tổng hợp quá trình và kết quả nghiên cứu, đồng thời rút ra một số hàm ý nhằm nâng cao sự hài lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ giao nhận Container tại cảng Sowatco Long Bình. -8- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN CONTAINER 2. Khái niệm và đặc điểm về dịch vụ 2.
Khái niệm về dịch vụ Zeithaml. J, (2000) định nghĩa “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. P (2006) cho rằng “Dịch vụ là mọi hàng động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phâm củ nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”.
Theo WTO thì dịch vụ có đặc tính vô hình và đa dạng nhiều loại hình dịch vụ khác nhau và cũng theo tổ chức này dịch vụ được phân loại thành 12 ngành, cụ thể là: “(1) Dịch vụ kinh doanh; (2) Dịch vụ giáo dục; (3) Dịch vụ xây dựng thi công; (4) Dịch vụ phân phối; (5) Dịch vụ liên lạc; (6) Dịch vụ môi trường; (7) Dịch vụ tài chính; (8) Dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội; (9) Dịch vụ du lịch và dịch vụ liên quan đến sức khỏe và dịch vụ xã hội; (10) Dịch vụ văn hóa, giải trí và thể thao; (11) Dịch vụ vận tải; (12) Dịch vụ khác: bao gồm bất kỳ các loại dịch vụ nào không thuộc 11 ngành dịch vụ kể trên” (Đoàn Thị Hồng Vân, 2003) Dịch vụ vận tải cũng nằm trong 12 loại dịch vụ theo WTO, dịch vụ này đóng vai trò quan trọng liên quan đến sự dịch chuyển của hàng hóa, của con người và giúp cân bằng nguồn lực giữa các vùng miền, góp phần tạo nên sự thuận lợi về giao thương, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Đặc điểm về dịch vụ Dịch vụ được xem như “hàng hóa đặc biệt” khác với hàng hóa vật chất thông thường. P, (2000) cho rằng dịch vụ bao gồm 05 đặc điểm cơ bản. Tính vô hình (Intangibility) thể hiện qua việc dịch vụ không thể tồn trữ, không thể cân, đong, đo, đếm, không thể thử nghiệm hoặc kiểm định trước khi mua để kiểm tra chất lượng.
-9- Tính không đồng nhất (Variability) thể hiện trong việc hoạt động của dịch vụ thường thay đổi từ các nhà cung cấp dịch vụ cho đến khách hàng. Hơn thế nữa, CLDV cung cấp cũng khác theo từng ngày, tháng, năm kinh doanh. Tính không thể tách rời (Inseparabilyty) thể hiện qua việc dịch vụ không thể sản xuất và tiêu dùng đối với nhiều loại hình dịch vụ thì không thể tách rời. Tính không lưu trữ được (Perishability) được thể hiện qua việc dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp.
Tính đồng thời (Simultaneity): Tính chất không tách rời giữa việc tạo ra sản phẩm dịch vụ với tiêu dùng sản phẩm dịch vụ (hay nói cách khác là quá trình sản xuất và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời) những người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ cũng tham gia vào hình thành và hoàn thành sản phẩm dịch vụ. Năm đặc điểm này của dịch vụ luôn gắn liền với nhau, kết hợp nhân quả với nhau để tạo thành một dịch vụ. Tuy nhiên để biết dịch vụ đó tốt hay không tốt, dịch vụ cao cấp hay trung bình thì cần phải hiểu và biết được chất lượng dịch vụ. Tác giả sẽ phân tích các vấn đề liên quan đến chất lượng dịch vụ.2 Khái niệm và đặc điểm dịch vụ logistics 2.
Khái niệm Hội đồng quản trị logistics của Mỹ cho rằng “logistics là quy trình chuỗi cung ứng có nhiệm vụ lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát quá trình lưu chuyển, dự trữ hàng hoá, dịch vụ và những thông tin liên quan từ điểm xuất phát đầu tiên đến nơi tiêu thụ cuối cùng sao cho hiệu quả và phù hợp với yêu cầu của khách hàng”. Theo quan niệm của Liên hợp quốc: “Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng” (Christopher. Tiếp cận ở khía cạnh quản trị chuỗi cung ứng thì “Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, lưu trữ và chu chuyển các tài nguyên/ nhân tố đầu vào từ điểm xuất phát đầu tiên là nhà cung cấp, qua nhà sản xuất, bán buôn, bán lẻ đến tay người tiêu dung cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế” (Christopher. - 10 - Đoàn Thị Hồng Vân (2003) định nghĩa “Logistics là quá trình tối ưu hoá các hoạt động vận chuyển và dự trữ hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”.
Theo đó, “Logistics được mô tả là các hoạt động (dịch vụ) liên quan đến hậu cần và vận chuyển, bao gồm các công việc liên quan đến cung ứng, vận tải, theo dõi sản xuất, kho bãi, thủ tục phân phối, hải quan. Hay nói cách khác, “Logistics là tập hợp các hoạt động của nhiều ngành nghề, công đoạn trong một quy trình hoàn chỉnh”. J, (1983) cho rằng “Logistics là nghệ thuật và khoa học giúp quản trị và kiểm soát dòng chảy của hàng hóa, năng lượng, thông tin và những nguồn lực khác”. Từ các định nghĩa trên cho thấy “dịch vụ Logistics trong giao nhận vận tải quốc tế vừa là sự phát triển ở giai đoạn cao của dịch vụ giao nhận vận tải trên cơ sở sử dụng các thành tựu của CNTT để điều phối hàng hoá từ khâu tiền sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng, vừa nêu lên được ưu điểm nổi bậc của nó so với dịch vụ giao nhận vận tải”.
Đó là sự tối ưu hóa dịch vụ giao nhận vận tải nhằm đảm bảo giao hàng đúng lúc với chi phí thấp nhất. Luật Thương mại Việt Nam, 2005 tại Mục 4, Điều 233 quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Dịch vụ logistics trong ngành vận tải xuất nhập khẩu bao gồm các hoạt động của thương nhân nhằm lập kế hoạch, tổ chức thực hiện các dịch vụ kinh doanh liên quan đến vận tải (đường biển, đường bộ, đường hàng không, đường thủy nội địa), lưu kho bãi, sắp xếp, đóng gói, bao bì hàng hóa sẵn sàng cho quá trình vận tải và phân phối hàng đi các nơi theo yêu cầu của người ủy thác. Dịch vụ logistics theo quy định được phân loại như sau: 2.
Các dịch vụ logistic chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; - 11 - Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; Dịch vụ bổ trợ khác bao gồm hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistic; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. Các dịch vụ logistic liên quan đến vận tải, bao gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải; Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa; Dịch vụ vận tải hàng không; Dịch vụ vận tải đường sắt; Dịch vụ vận tải đường bộ; Dịch vụ vận tải đường ống. Các dịch vụ logistic liên quan khác, bao gồm: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; Dịch vụ bưu chính; Dịch vụ thương mại bán buôn; Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác." Dịch vụ vận chuyển hàng nhập khẩu là một trong những hình thức của dịch vụ logictics và có những đặc điểm cơ bản của dịch vụ logicstis. Đặc điểm về dịch vụ logistics Ballou.
H (2011) cho rằng dịch vụ logistics có những đặc điểm cơ bản như sau: - Dịch vụ logistics là một loại hoạt động dịch vụ: Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng của doanh nghiệp, dịch vụ, đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung cấp thông qua việc tập trung các nhân tố khác nhau, các nhân tố này là các bộ phận tạo thành chuỗi logistics. - Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải và giao nhận: Logistics là sự phát triển của dịch vụ vận tải giao nhận ở trình độ cao và hoàn thiện. Qua các giai đoạn phát triển, logistics đã làm cho khái niệm vận tải giao nhận truyền thống ngày càng đa dạng và phong phú thêm.