Chương 1: TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI CÁ NHÂN KINH DOANH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận án 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Là một trong những ngành đã, đang và sẽ phát triển trở thành hình thức phát triển quan trọng, phổ biến trong hoạt động thương mại của nền kinh tế, thương mại điện tử được nhiều nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu từ những vấn đề phát triển chung đến phát triển bền vững của một khu vực, một quốc gia và phát triển TMĐT với các hình thức đặc thù. Công nghệ thông tin, ngày nay, đã có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống KTXH, làm thay đổi phương pháp giao tiếp,.
Các khái niệm e-Gov; e-Edu; e-Office. xuất hiện ngày càng nhiều. Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD, giao dịch TMĐT là việc bán hoặc mua hàng hóa dịch vụ, được thực hiện qua mạng máy tính bằng các phương pháp được thiết kế đặc biệt để nhận hoặc đặt hàng (OECD, 2011). Trần Văn Hòe (2008) cho rằng, TMĐT (e-commerce) cũng được hiểu tương tự như kinh doanh điện tử (e-business), đó là chu kỳ kinh doanh, tốc độ kinh doanh, toàn cầu hóa, nâng cao năng suất, tiếp cận khách hàng mới và chia sẻ kiến thức giữa các tổ chức nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh.
Kalakota & Whinston (1997) (trích dẫn trong Đào Anh Tuấn, 2013, tr.18) thì định nghĩa TMĐT là quá trình mua bán và trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin thông qua hệ thống máy tính trên nền internet. Theo diễn giải từ ngữ tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/05/2013 của Chính phủ về TMĐT thì: “hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Các nghiên cứu trên thế giới thường chia TMĐT thành một số mô hình chính với sự tham gia của doanh nghiệp (B-Business) và Khách hàng (C-Customer) như: Mô hình B2B (Business to Business) là mô hình TMĐT dựa trên mối quan hệ giữa các DN với nhau, các giao dịch diễn ra chủ yếu trên các kênh TMĐT hoặc sàn giao dịch điện tử. Mô hình B2C (Business to Customer) là mô hình TMĐT giữa DN trực tiếp với khách hàng, trong đó, đối tượng khách hàng của loại hình này là các cá nhân mua hàng.
8 Doanh nghiệp đưa hàng hóa của mình lên mạng internet, khách hàng xem thông tin sản phẩm, đặt mua, nhận hàng hóa. Ở chiều ngược lại, mô hình C2B (Customer to Business) là mô hình cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho DN hoặc các cá nhân cùng hợp tác để thực hiện các hoạt động kinh doanh với DN. Mô hình C2C (Customer to Customer) là mô hình TMĐT mà người bán đưa hàng hóa, dịch vụ của mình lên website và người mua sẽ trả giá để mua hàng hóa, dịch vụ đó, hay nói cách khác là mô hình này được thực hiện thông qua các hình thức mua bán trực tiếp giữa các khách hàng thông qua website, điện thoại, thư điện tử hoặc các phương tiện điện tử khác, như: Bán các tài sản cá nhân, Dịch vụ quảng cáo, Dịch vụ tư vấn cá nhân, chuyển giao tri thức, đấu giá do cá nhân, nhóm cá nhân thực hiện, thương mại ngân hàng điện tử, quảng cáo bán hàng hóa, dịch vụ trên phương tiện điện tử của cá nhân,… Có thể khái quát mô hình C2C như sau: Hình 1.1: Mô hình kinh doanh TMĐT giữa Khách hàng với khách hàng Nguồn: Tác giả xây dựng Ngoài ra, còn có mô hình TMĐT giữa các tổ chức phi kinh doanh (Nonbusiness electronic commerce - Nonbusiness EC) như: G2G (Government to Government), G2B (Government to Business), G2C (Government to Citizen), A2A (Administration to Administration); hoặc mô hình TMĐT trong chính nội bộ DN: Intrabusiness- Intrabusiness) bao gồm tất cả các hoạt động nội bộ DN thường được thực hiện trên intranets, đó là các hoạt động trao đổi hàng hóa, dịch vụ hoặc thông tin bao gồm từ bán hàng hóa hoặc dịch vụ của công ty cho người lao động của DN đến đào tạo trực tuyến của công ty (Trần Văn Hòe, 2008). Theo Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính, cá nhân kinh doanh là “cá nhân cư trú bao gồm cá nhân, nhóm cá nhân và hộ gia đình có hoạt 9 động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, cá nhân kinh doanh TMĐT, dưới góc độ quản lý nhà nước ở từng thời điểm, được hiểu là các cá nhân cư trú sử dụng phương tiện internet, website để thực hiện hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, đây là văn bản chuyên ngành và hướng tới nhóm đối tượng quản lý là cá nhân cư trú, trên thực tế, nhóm cá nhân kinh doanh TMĐT rất đa dạng, có thể là cá nhân cư trú hoặc không cư trú, tại Việt Nam hoặc ngoài Việt Nam, … Từ mô hình C2C cho thấy, đây là mô hình thể hiện rõ nét nhất hoạt động của các cá nhân kinh doanh TMĐT hiện nay. Đặc điểm của TMĐT là: giao dịch có thể thực hiện 24/24, vượt qua giới hạn không gian và thời gian; khách hàng dễ dàng tìm kiếm thông tin qua các công cụ điện tử và do vậy có nhiều cơ sở để so sánh giá, để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm vì thế sẽ mua được sản phẩm rẻ hơn, nhanh hơn, hiệu quả hơn và thuận lợi hơn; Các nhà cung cấp có thể giảm chi phí bán hàng, củng cố quan hệ với khách hàng, thông tin sản phẩm được cập nhật kịp thời, nhanh chóng, tăng sự linh hoạt trong giao dịch, nâng cao hình ảnh nhà cung cấp. Bên cạnh những tiện ích của TMĐT thì những thách thức trong quản lý đối với các cơ quan thuế ở các quốc gia cũng không nhỏ: OECD (2001), Tax administration aspects of electronic commerce: responding to the challenges and opportunities.
Theo báo cáo nghiên cứu của Diễn đàn quản lý chiến lược (Forum on Strategic Management - FSM) tới Ủy ban các vấn đề tài chính (CFA) của OECD, báo cáo đã sử dụng những nguyên tắc và kết luận được chỉ ra tại các Hội nghị Bộ trưởng OECD trước đó để đưa ra khuyến nghị về các yếu tố của khung thuế trong quản lý thuế TMĐT, gồm: (1) Dịch vụ người nộp thuế: Xây dựng sự đồng thuận quốc tế về các cách đơn giản hóa hệ thống thuế nhằm giảm thiểu chi phí tuân thủ thuế; (2) Nhu cầu quản lý, nhận dạng và thông tin về thuế: Áp dụng các thông lệ nhận dạng thông thường cho doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực TMĐT; Phát triển các hướng dẫn được quốc tế chấp nhận về mức độ nhận dạng đủ để cho phép chữ ký số được coi là bằng chứng nhận dạng có thể chấp nhận được trong các vấn đề thuế; Xây dựng các yêu cầu thông tin tương thích quốc tế, chẳng hạn như chấp nhận hồ sơ điện tử, định dạng hồ sơ, truy cập thông tin của bên thứ ba và các thỏa thuận truy cập khác cũng như thời hạn lưu giữ và thu thuế; (3) Thu và kiểm soát thuế: Thiết kế các chiến lược và biện pháp phù hợp để cải thiện việc tuân thủ thuế đối với các giao dịch TMĐT, bao gồm các biện pháp cải thiện việc tuân thủ tự nguyện. OECD (2001), Taxation and Electronic Commerce - Implementing the Ottawa Taxation Framework Conditions, Ủy ban các vấn đề tài chính (CFA) của OECD đã tóm 10 tắt kế hoạch hành động của OECD về TMĐT được các Bộ trưởng thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng OECD được tổ chức từ ngày 07 đến 09 tháng 10 năm 1998 tại Ottawa, Canada. Theo đó, tại Ottawa, hội nghị đã đồng ý áp dụng các nguyên tắc thuế sau đây cho TMĐT: Những nguyên tắc tương tự mà các cơ quan quản lý áp dụng cho thương mại thông thường nên áp dụng cho TMĐT theo nghĩa: Tính trung lập - thuế phải trung lập và công bằng giữa thương mại điện tử và thương mại thông thường; Hiệu quả - Giảm thiểu chi phí tuân thủ cho người nộp thuế và chi phí hành chính cho cơ quan thuế; Tính chắc chắn và đơn giản - nên áp dụng các quy tắc thuế rõ ràng và đơn giản để người nộp thuế có thể xác định được mức thuế của một giao dịch; Hiệu quả và công bằng - các quy định về thuế phải đưa ra số tiền thuế phù hợp vào đúng thời điểm. Khả năng trốn tránh và tránh thuế phải được giảm thiểu; Tính linh hoạt - để theo kịp sự phát triển của công nghệ và thương mại, hệ thống thuế phải linh hoạt và năng động.
Ủy ban các vấn đề tài chính (CFA) của OECD đã sử dụng các nguyên tắc về thuế để đưa ra các kết luận sau được phản ánh trong khung thuế: (1) Các nguyên tắc tương tự hướng dẫn các cơ quan quản lý liên quan đến thương mại truyền thống cũng sẽ áp dụng cho TMĐT; (2) CFA cho rằng những nguyên tắc này có thể được áp dụng cùng với các quy định về thuế hiện hành. Cách tiếp cận này không loại trừ các biện pháp hành chính hoặc lập pháp mới hoặc những thay đổi trong các biện pháp hiện hành liên quan đến TMĐT, miễn là chúng nhằm mục đích hỗ trợ việc áp dụng các nguyên tắc thuế và không tìm cách áp đặt thuế phân biệt đối xử đối với các giao dịch TMĐT; (3) Việc áp dụng các nguyên tắc này vào TMĐT phải được cấu trúc để duy trì chủ quyền tài chính của các quốc gia, nhằm đạt được sự phân bổ công bằng cơ sở thuế áp dụng cho TMĐT này và để tránh đánh thuế hai lần hoặc bỏ sót vô ý; (4) Quá trình thực hiện những nguyên tắc đó phải bao gồm việc đối thoại chặt chẽ với các công ty và với nền kinh tế của các nước không phải là thành viên. Một trong các nội dung chính về quản lý thuế được CFA nêu ra, bao gồm việc phân tích các cơ hội do công nghệ mang lại, nền tảng của TMĐT, nhằm cải thiện dịch vụ cho người nộp thuế, cũng như tư vấn và thúc đẩy việc tuân thủ. Nó cũng giải quyết những thách thức mà TMĐT đặt ra đối với các phương pháp kiểm tra và thu thuế đã được thiết lập cũng như khả năng của các cơ quan quản lý thuế trong việc chống lại hành vi trốn thuế và tránh né thuế.
Các lĩnh vực công việc chính được đề cập ở đây, chẳng hạn như phát triển thông tin tương thích quốc tế và các yêu cầu về thông tin giúp giảm chi phí đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ.