phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm các chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ e 15 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Cơ sở lý thuyết về dự toán ngân sách 1.1 Khái niệm dự toán ngân sách Theo Vanderbeck (2010) thì dự toán ngân sách trong kinh doanh là phƣơng pháp chi tiết hóa kế hoạch tài chính, giúp công ty đạt đƣợc những mục tiêu ngắn hạn cũng nhƣ dài hạn. Nếu những nguyên tắc của dự toán ngân sách đƣợc thực hiện một cách hợp lý, các công ty có thể yên tâm rằng sẽ sử dụng hiệu quả tất cả nguồn lực của mình và đạt đƣợc những kết quả thuận lợi nhất trong thời gian dài. Theo Huỳnh Lợi (2012) thì dự toán là tính toán, dự kiến một cách chi tiết, tỉ mỉ về nguồn lực, cách thức huy động và sử dụng nguồn lực để thực hiện những hoạt động sản xuất kinh doanh nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định và đƣợc thể hiện dƣới hình thức hệ thống các chỉ tiêu lƣợng, giá. Dự toán ngân sách là một phần của dự toán với mục đích hƣớng đến thể hiện rõ ràng, chi tiết nguồn tài chính, nguồn tiền.
Theo Lebas (2015) thì dự toán ngân sách là những kế hoạch chi tiết. Dự toán ngân sách là sự phối hợp tƣong tác của việc sử dụng các nguồn lực để tổ chức thực hiện theo các kế hoạch đã đề ra. Vậy dự toán ngân sách là việc tính toán các mục tiêu cụ thể, các nguồn lực tài chính cụ thể của doanh nghiệp và đƣợc thể hiện ra một hệ thống các chỉ tiêu, bảng biểu. Dự toán ngân sách đƣợc xây dựng trên kế hoạch, chi tiết hóa kế hoạch tài chính, giúp công ty đạt đƣợc những mục tiêu tài chính trong hoạt động sản xuất kinh doanh.2 Phân loại dự toán ngân sách Dự toán là công cụ của nhà quản lý, chính vì thế đòi hỏi nhà quản lý phải am hiểu các loại dự toán để thích ứng với từng nhu cầu riêng lẻ và từng hoàn e 16 cảnh cụ thể của từng tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn.
Tùy theo cách thức phân loại sẽ có các loại dự toán ngân sách sau đây: Phân loại theo chức năng: Phân loại dự toán theo chức năng cụ thể của từng báo cáo dự toán, chia dự toán làm 2 loại chính là dự toán hoạt động và dự toán tài chính. - Dự toán hoạt động: là tập hợp toàn diện các bản dự toán về tất cả các giai đoạn của các mặt hoạt động kinh doanh trong một kỳ thời gian cụ thể. Dự toán hoạt động bao gồm các dự toán liên quan đến hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhƣ: dự toán tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán chi phí bán hàng, dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Trong đó, dự toán tiêu thụ nhằm dự đoán tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp trong kỳ dự toán.
Dự toán sản xuất thƣờng đƣợc lập trong các doanh nghiệp sản xuất nhằm dự tính số lƣợng sản phẩm cần sản xuất và từ đó lập các dự toán chi phí sản xuất nhƣ dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (CP NVLTT), chi phí nhân công trực tiếp (CP NCTT), chi phí sản xuất chung (CP SXC). Trong các doanh nghiệp thƣơng mại, dự toán mua hàng sẽ đƣợc lập thay cho dự toán sản xuất nhằm dự toán khối lƣợng hàng cần thiết phải mua cho nhu cầu tồn kho và tiêu thụ. Dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp (CP BH & QL DN) nhằm dự toán chi phí cho các hoạt động bán hàng và quản lý của DN. Dự toán báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD): là dự toán tổng hợp từ các dự toán trên nhằm dự toán tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Dự toán tài chính: Là các dự toán liên quan đến tiền tệ, vốn đầu tƣ, bảng cân đối kế toán, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Dự toán tiền tệ là kế hoạch chi tiết cho việc thu và chi tiền. Dự toán vốn đầu tƣ trình bày dự toán các tài sản dài hạn và vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh ở những năm tiếp theo. Dự toán bảng cân đối kế toán, dự toán báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là các dự toán tổng hợp số liệu kinh doanh của doanh nghiệp.
e 17 Phân loại theo thời gian Phân loại dự toán theo thời gian, gồm dự toán ngắn hạn và dài hạn - Dự toán ngắn hạn: Dự toán ngân sách ngắn hạn là dự toán đƣợc lập cho kỳ kế hoạch là một năm và đƣợc chia ra từng kỳ ngắn hơn là hàng quý và hàng tháng. Dự toán ngân sách ngắn hạn thƣờng liên quan đến các hoạt động kinh doanh thƣờng xuyên của tổ chức nhƣ mua hàng, bán hàng, thu tiền, chi tiền, sản xuất… Dự toán ngân sách ngắn hạn đƣợc lập hàng năm trƣớc khi niên độ kế toán kết thúc và đƣợc xem nhƣ là định hƣớng chỉ đạo cho mọi hoạt động của tổ chức trong năm kế hoạch. - Dự toán ngân sách dài hạn: dự toán ngân sách dài hạn còn đƣợc gọi là dự toán ngân sách vốn, đây là dự toán đƣợc lập liên quan đến tài sản dài hạn, thời gian sử dụng tài sản vào các hoạt động kinh doanh thƣờng hơn 1 năm. Dự toán dài hạn thƣờng bao gồm việc dự toán cho các tài sản lớn phục vụ cho hoạt động sản xuất và hệ thống phân phối nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị …để đáp ứng yêu cầu chiến lƣợc kinh doanh.
Đặc điểm cơ bản của dự toán ngân sách vốn là lợi nhuận dự kiến lớn, mức độ rủi ro cao, thời gian thu hồi vốn dài. Phân loại theo phuơng pháp lập Phân loại theo phƣơng pháp lập sẽ có dự toán cố định và dự toán linh hoạt: - Dự toán ngân sách linh hoạt: Là dự toán cung cấp cho công ty khả năng ƣớc tính chi phí và doanh thu tại nhiều mức độ hoạt động khác nhau. Dự toán linh hoạt đƣợc lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp xác định ngân sách dự kiến tƣơng ứng ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác nhau. Thông thƣờng dự toán linh hoạt đƣợc lập ở 3 mức độ hoạt động cơ bản là: mức độ hoạt động bình thƣờng, trung bình; mức độ hoạt động khả quan nhất; mức độ bất lợi nhất.
Ƣu điểm của dự toán linh hoạt là có thể thích ứng với sự thay đổi của hoạt động kinh doanh, mở rộng phạm vi dự toán, tránh đƣợc việc sửa đổi dự e 18 toán một cách phiền phức khi mức độ hoạt động thay đổi. Mặt khác, có thể dùng dự toán để xem xét tình hình thực hiện trong thực tế. - Dự toán ngân sách cố định: Là dự toán tại các số liệu tƣơng ứng với một mức độ hoạt động ấn định trƣớc. Dự toán ngân sách cố định phù hợp với doanh nghiệp có hoạt động kinh tế ổn định.
Dự toán cố định chỉ dựa vào một mức độ hoạt động mà không xét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ dự toán. Nếu dùng dự toán này để đánh giá thành quả kinh doanh của một doanh nghiệp mà các nghiệp vụ luôn biến động thì khó đánh giá đƣợc tình hình thực hiện dự toán của doanh nghiệp.3 Vai trò, chức năng dự toán ngân sách Vai trò dự toán ngân sách Hilton và cộng sự (2010) thì vai trò cơ bản của dự toán ngân sách là phục vụ cho việc hoạch định và kiểm tra hoạt động kinh doanh. Thông qua đó mà ngƣời quản lý đạt đƣợc mục tiêu của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận. Ngoài ra dự toán ngân sách còn có một số vai trò khác nhƣ: - Dự toán ngân sách tạo điều kiện cho nhà quản trị kiểm soát đƣợc hoạt động của doanh nghiệp và đánh giá đƣợc trách nhiệm quản lý của mỗi bộ phận, cá nhân trong tổ chức.
- Dự toán ngân sách cũng là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, tình hình thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đã đặt ra. Trên cơ sở đó cũng đề ra các biện pháp để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ theo đúng tiến độ. - Dự toán ngân sách giúp cho các nhà quản trị cụ thể hóa các mục tiêu doanh nghiệp thông qua các số liệu để có cái nhìn khái quát hơn. Dự toán ngân sách cung cấp cho các nhà quản trị tất cả thông tin của kế hoạch sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm trong mỗi thời gian cụ thể và toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh.
e 19 Chức năng dự toán ngân sách Dự toán ngân sách có những chức năng nhƣ sau: Chức năng dự báo: Chức năng dự báo của DTNS đề cập đến việc dự báo các tác động từ bên ngoài đến hoạt động của DN. Một vài bộ phận của dự toán không khác hơn là dự báo vì trong thực tế dự toán có thể đƣợc sử dụng cho kiểm soát nhƣng đôi khi lại không thể do có những yếu tố khách quan không thể kiểm soát đƣợc. Vì vậy, dự toán trong những trƣờng hợp này chỉ mang tính chất dự báo. Chức năng hoạch định: Chức năng hoạch định của DTNS mang tính chủ động hơn chức năng dự báo.
Một DTNS đƣợc lập, bắt buộc DN phải thiết lập những mục tiêu, kế hoạch hoạt động cho từng bộ phận, từng hoạt động cho một giai đoạn thích hợp trong tƣơng lai dựa trên các chính sách tổng thể của DN. Các dự toán sẽ đƣa ra những định mức chi tiết về các kết quả đầu ra cần đạt đƣợc, thời gian hoàn thành và các nguồn lực cần sử dụng đạt đƣợc kết quả theo yêu cầu này. Các DN hoạch định kết quả đầu ra nhƣ số lƣợng sản phẩm tiêu thụ, giá bán, doanh số đạt đƣợc và các nguồn lực cần sử dụng thể hiện ở các dự toán về chi phí nhƣ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp,. Đó là chức năng hoạch định của DTNS.
Chức năng điều phối: Chức năng điều phối của DTNS thể hiện thông qua việc huy động và phân phối các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu của nhà quản trị. Nhà quản trị kết hợp giữa hoạch định các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và việc đánh giá năng lực sản xuất kinh doanh thực tế của từng bộ phận để điều phối các nguồn lực của doanh nghiệp tới các bộ phận sao cho việc sử dụng đạt hiệu quả cao nhất.