CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ sở lý luận về lợi nhuận Định nghĩa về lợi nhuận, được xem như một yếu tố đóng vai trò chính trong sự đổi mới và đi lên của DN cũng như toàn XH. Đồng thời cũng là động lực quan trọng thúc đẩy DN phát triển để khẳng định hơn nữa vị thế của mình trên thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Đối với hầu hết DN khi hoạt động trong cơ chế thị trường thì điều đáng quan tâm trước hết đó là mức lợi nhuận. Đây là một tiêu chí kinh tế bao gồm nhiều nhân tố, thể hiện KQ của HĐKD, mặt khác cũng là yếu tố sống còn của DN đó.
Một DN muốn tồn tại và phát triển bền vững thì trước hết nó phải tạo ra được lợi nhuận, còn nếu DN HĐKD không đem tới KQ, mức thu không chi trả được các khoản phí đã bỏ ra để SXKD thì DN đó sẽ bị loại trừ và dẫn tới phá sản. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – VAS 01 – Chuẩn mực chung cho rằng “Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu; thu nhập khác và chi phí. Doanh thu; thu nhập khác; chi phí và lợi nhuận là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu hay thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được số doanh thu hay thu nhập đó”. Lợi nhuận = Doanh thu (thu nhập) – Chi phí tạo ra doanh thu (Chi phí) 2.2 Cơ sở lý luận về quản trị lợi nhuận 2.1 Định nghĩa về quản trị lợi nhuận Schipper (1986) “Quản trị lợi nhuận là sự can thiệp có chủ đích với sự tính toán kỹ lưỡng về mặt số liệu kế toán, lựa chọn các quy tắc báo cáo chính xác hơn nhằm đạt được mục tiêu của nhà quản trị”. Healy and Whalen (1999) “Quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý sử dụng phán đoán của mình trong sự lựa chọn ước tính kế toán hoặc thay đổi cấu trúc các 18 giao dịch nội bộ, gây tác động đáng kể đến chất lượng thông tin trên BCTC công bố cho các nhà đầu tư hoặc làm ảnh hưởng đến các hợp đồng mà có cam kết dựa trên chỉ tiêu lợi nhuận kế toán”. Wagenhofer (2011) đã khẳng định rằng “Chuẩn mực kế toán là nền tảng, nguồn gốc quyết định hành vi quản trị lợi nhuận, cung cấp và đưa ra sự lựa chọn cho nhà quản trị”.
Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 – VAS 01 là cơ sở và nguyên tắc đo lường Lợi nhuận kế toán theo cơ sở: - Cơ sở dồn tích: Hầu hết những nghiệp vụ kinh tế, tài chính trong DN đều liên kết với TS; nguồn vốn CSH; nợ phải trả; chi phí; doanh thu cần phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán ở thời điểm diễn ra phát sinh, không dựa trên thực tế ở thời điểm thu hay chi tiền hoặc tương đương tiền. - Hoạt động liên tục: Lợi nhuận kế toán dựa trên quy tắc thực hiện liên tục, nhận định nhờ vào thời điểm quy định liên quan tới công việc tại một thời điểm cụ thể. Hiểu cách khác thì, lợi nhuận sẽ được nhận định dựa vào cơ sở hoạt động liên tục. - Nguyên tắc phù hợp: Công tác ghi nhận mức doanh thu và chí phí cần phải thích hợp với nhau.
Khi tiến hành ghi nhận một khoản doanh thu thì cũng đồng nghĩa với việc sẽ phải ghi nhận một khoản chi phí phù hợp với doanh thu đó. Với những chi phí đó sẽ có chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí cần thanh toán có mối liên hệ với doanh thu trong kỳ đó. - Nguyên tắc thận trọng kế toán: Thận trọng thực chất được xem như việc nhận định, xem xét một cách đúng đắn nhằm đưa ra được ước tính kế toán ở những hoàn cảnh chưa có sự chắc chắn. Trong đó, yếu tố của thận trọng sẽ bao gồm: Cần phân tích trích lập dự phòng không quá cao; không đưa ra nhận định cao hơn mức với mức giá của TS cũng như những khoản thu khác; đồng thời cũng không đưa ra đánh giá thấp hơn mức giá trị của những khoản nợ phải trả và chi phí; DT sẽ được ghi nhận khi đưa ra được bằng chứng cho thấy đã sinh ra lợi nhuận về mặt kinh tế, mặt khác chi phí lại được ghi nhận khi đưa ra được bằng chứng có liên quan tới khả năng phát sinh.2 Mục đích của quản trị lợi nhuận Có thể thấy việc thay đổi mức lợi nhuận thu được là một hoạt động hết sức quan trọng đối với các DN, do khi diễn ra việc thay đổi mức lợi nhuận có thể khiến cho BCTC giảm đi độ đáng tin cậy và đây là báo cáo chính để đem tới mọi thông tin liên quan tới HĐKD của công ty cho NĐT.
Vì sự mất cân bằng trong thông tin giữa người bên trong và ngoài của DN, nên những người bên trong DN có thể trên việc kiểm soát của họ với quyền truy cập và đưa ra được BCTC nhằm thay đổi cũng như che đi các KQ không đạt. Dựa trên nghiên cứu của TG Nguyễn Công Phương (2007) thì cơ sở để NQT tiến hành HVQTLN đó là: - Mức độ lương, thưởng đối với NQT - Thu hút thêm nhiều nhà tài trợ từ bên ngoài vào - Tránh làm sai hợp đồng - Hạn chế tối đa chi phí điều tiết của nhà nước - Tối thiểu hóa chi phí thuế TNDN - QTLN dựa vào việc chọn ra chính sách kế toán 2.3 Cơ sở của quản trị lợi nhuận Những DN trước khi lập BCTC (ngoại trừ BC lưu chuyển tiền tệ) dựa trên tiêu chuẩn kế toán quốc tế IAS1 cần thông qua cơ sở dồn tích. Tại đây sẽ được tiến hành giám sát mọi giao dịch ở những kỳ khác nhau như: Nợ phải trả; TS khấu hao; nợ phải thu; dự phòng…. Bên cạnh đó, tất cả những nghiệp vụ kinh tế phát sinh có liên quan tới TS, vốn CSH, nợ phải trả, doanh thu và chi phí sẽ được ghi nhận ở đúng thời điểm diễn ra việc phát sinh giao dịch, không phải thời điểm diễn ra việc giao dịch.
Từ đó cho ta thấy được thực chất của cơ sở dồn tích đó là nguyên tắc mang tính đơn giản nhất có thể thay đổi những phương pháp kế toán nhất định trong DN. 20 Lợi nhuận được xem như tiêu chí khiến những NQT có thể ưu tiên đối với hành vi điều chỉnh. Trong đó sẽ bao hàm dòng tiền hoạt động và tích lũy phụ thuộc vào những khái niệm kể trên, thực tế BGĐ công ty sẽ đưa ra 02 cách thức nhằm thay đổi mức lợi nhuận đó là: - QTLN thực tế (Real earning management - REM): Trong một nghiên cứu khác mang tính toàn diện hơn được Roychowdhury (2006) đưa ra đã cho thấy “QTLN thực chất được xem như sự mới lạ đối với mọi hoạt động đang diễn ra, nó được khích lệ dựa trên những nhu cầu của NQL, để tạo ra sự hiểu nhầm cho các bên có liên quan về tiêu chí của BCTC đã có được trong giai đoạn diễn ra HĐKD bình thường của DN”. - QTLN dồn tích (Accrual-based earning management - AEM): TG Xiong (2006) lại xem QTLN dồn tích luôn có một phần tích lũy ngược trong quá trình diễn ra HVQTLN.
Điều này tức là phụ thuộc vào chính sách kế toán mà NQT sẽ sử dụng các biện pháp khác nhau nhằm tạo nên sự thay đổi trong lợi nhuận giữa các kỳ, việc tăng trưởng lợi nhuận diễn ra ở thời điểm này sẽ đưa tới sự giảm lợi nhuận tại kỳ kế tiếp. Mặt khác, việc giảm mức lợi nhuận tại thời điểm hiện nay sẽ hình thành nên sự gia tăng lợi nhuận ở thời điểm tiếp theo. Hoạt động QTLN dựa vào phương pháp dồn tích nên sẽ không tác động tới dòng tiền của DN như REM (Cupertino, Martinez, & da Costa, 2015), phương phát trên rất dễ tiến hành và sử dụng nguồn vốn ít hơn QLLN thực tế. Tựu chung lại, dựa vào phạm vi nghiên cứu của luận văn có thể biết được QTLN được xem như STG có mục đích thông qua quyết định của NQT dựa vào việc áp dụng đúng đắn, sáng tạo của các nguyên tắc kế toán hợp pháp, luôn giữ được tính phù hợp về mặt tài chính.
Dựa trên những quy định kế toán đưa ra, nó có thể hạn chế hay nhân rộng hơn nhằm giúp NQT hoàn thành tiêu chí lợi nhuận. QTLN được xem như công cụ hữu ích có thể thay đổi được nội dung của các thông tin, “trắng” đại diện cho sự có lợi, còn “đen” thì thể hiện sự bất lợi và “xám” là cả hai Ronen và Yaari (2008).3 Một số mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận Mọi nội dung có trong cơ sở lý thuyết liên quan tới việc nhận biết HVQTLN đều được hầu hết các TG trong và ngoài nước dựa trên nguyên tắc dồn tích của kế toán. Thực chất của nguyên tắc này đó là chia mức lợi nhuận có tại kỳ mà DN đạt được thành hai loại đó là: (i) Lợi nhuận thực thu (Cash Earning) và (ii) Lợi nhuận dồn tích (Accrural Earning). Với mức Lợi nhuận thực thu giống như khoản thu thực tế thu/chi phát sinh tại kỳ của DN, khoản này thường không thể điều chỉnh được.
Còn Lợi nhuận dồn tích lại là khoản cần chi trả, chi phí thanh toán trước, khoản dự phòng TS giảm giá hoặc dự phòng phải trả, khấu hao v.v…Khoản này NQL có thể điều chỉnh được. Chính vì vậy, những mô hình xác định HVQTLN đều đến từ khoản dồn tích, nói cách khác là khoản dồn tích trong lợi nhuận (Total accrual earning viết tắt TA) TA = Lợi nhuận sau thuế - Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, không thể tính TA một cách trực tiếp vì trong TA vẫn bao gồm khoản dồn tích phù hợp, đúng với tình hình hoạt động của DN. Do đó, các nhà nghiên cứu đã tách TA thành hai phần: Các khoản dồn tích không thể điều chỉnh (Non- Discretionary accruals viết tắt NDA) và khoản dồn tích có thể điều chỉnh. DA chính là thước đo phù hợp đánh giá các nhà quản lý có điều chỉnh lợi nhuận hay không.
TA = NDA + DA Suy ra: DA = TA – NDA DA < 0: Khả năng nhà quản lý che giấu lợi nhuận DA = 0: Không có hành vi QTLN DA > 0: Khả năng nhà quản lý thổi phồng lợi nhuận Để đo lường hành vi QTLN có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau.