Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. 10 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Nam Đồng Nai 11 SƠ KẾT CHƢƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã đặt ra vấn đề về sự cần thiết của việc thực hiện đề tài nghiên cứu, đồng thời đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước cũng như ở nước ngoài, để xác định những đóng góp của các đề tài trước và đưa ra những lỗ hổng nghiên cứu cần được khắc phục.
Từ đó, tác giả đặt ra những mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu với hy vọng với sự đóng góp của tác giả sẻ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát triển Việt Nam Chi nhánh Nam Đồng Nai. 12 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các khải ni m cơ bản 2.1 Chất ƣợng Mặc dù thuật ngữ chất lượng được sử dụng khá rộng rãi trong các nghiên cứu của các nhà khoa học. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có định nghĩa chung được thống nhất vì các định nghĩa khác nhau về chất lượng sẽ được xác định là phù hợp theo hoàn cảnh khác nhau (Garvin, 1984; Reeves và Bednar, 1994; Seawright và Young, 1996; Russell và Miles, 1998; Beaumont và Sohal, 1999; Sebastianelli và Tamimi, 2002; Ojasalo, Năm 2006). Một số nhà nghiên cứu cho rằng chất lượng được định nghĩa là xuất sắc, giá trị (Feigenbaum, 1951), sự phù hợp với các thông số kỹ thuật (Shewhart, 1931; Levitt, 1972), sự phù hợp với yêu cầu (Crosby, 1979), sự phù hợp để sử dụng (Juran, 1974; 1988), các thuộc tính mong muốn của sản phẩm, tránh tổn thất, không thua lỗ (Taguchi, 1987) và đáp ứng kỳ vọng của khách hàng (Ryall và Kruithof, 2001).
Tuy nhiên các định nghĩa về chất lượng phổ biến rộng rãi không phải lúc nào cũng được chấp nhận trong các hoàn cảnh khác nhau. Các định nghĩa rộng (ví dụ: đáp ứng kỳ vọng, xuất sắc) rất khó để xác định. Trong khi các định nghĩa hẹp (ví dụ: tuân thủ các thông số kỹ thuật, tránh tổn thất, hạn chế thua lỗ) là không đủ toàn diện để nắm bắt được sự phong phú và phức tạp của khái niệm (Reeves và Bednar, 1995). Juran (1951) đã đưa ra một định nghĩa được sử dụng rộng rãi về chất lượng (Garvin, 1984 đặt tên nó là phương pháp tiếp cận dựa trên người dùng) đáp ứng tất cả các kỳ vọng của khách hàng, trong đó chất lượng được định nghĩa là tính thích hợp để sử dụng.
Tuy nhiên, yêu cầu của khách hàng liên tục thay đổi (Bowie and Bottle, 2004) và những gì khách hàng kỳ vọng ngày hôm nay không phải là những gì họ kỳ vọng ngày hôm qua và sẽ không phải là những gì họ sẽ kỳ vọng vào ngày mai (Hoyle, 2007). Tương tự như vậy, những gì doanh nghiệp có thể làm nhằm đáp ứng kỳ vọng của khách hàng ngày hôm nay không phải là những gì có thể làm để đáp ứng kỳ vọng cho khách hàng ngày hôm qua hoặc những gì có thể làm cho khách hàng vào ngày mai (Ryall và Kruithof, 2001). Theo nghĩa đó, bất kỳ nỗ lực 13 nào để đưa ra một định nghĩa hợp lệ về chất lượng đều cần sự nghiên cứu và đánh giá yêu cầu của khách hàng tại thời điểm đó (Hoyle, 2007). Tuy nhiên, thực tế cho thấy thường thì khách hàng không biết kỳ vọng của họ là gì, đặc biệt là với các sản phẩm và/hoặc dịch vụ họ mua hoặc sử dụng thường xuyên (Lawrence và Reeves, 1993).
Vì lý do này, xác định chất lượng là đáp ứng kỳ vọng của khách hàng được coi là định nghĩa phức tạp nhất về chất lượng và rất khó để đo lường (Reeves và Bednar, 1994). Do đó, theo Routio’s (2009), việc xác định chất lượng dựa trên kỳ vọng của khách hàng làm cho định nghĩa không đáng tin cậy. Trong khi đó, những gì khách hàng yêu cầu đối với một sản phẩm hoặc dịch vụ có thể được xác định và được đáp ứng (có thể dễ dàng đo lường), vì vậy định nghĩa thích hợp của chất lượng là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng mà không phải kỳ vọng của khách hàng (Reeves và Bednar, 1994).2 Dịch vụ khách hàng Tầm quan trọng của dịch vụ khách hàng trong ngành dịch vụ liên tục được nâng cao. Người tiêu dùng ngày càng nhận thức rõ hơn về các sản phẩm để lựa chọn, và xu hướng cạnh tranh đã thúc đẩy việc cải thiện các tiêu chuẩn dịch vụ và nâng cao kỳ vọng của khách hàng (Leonard và Sasser,1982).
Ngoài ra, khách hàng ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với chất lượng dịch vụ mà họ trải nghiệm (Albrecht và Zemke, 1985). Kỳ vọng là mong muốn hoặc nhu cầu của người tiêu dùng, đó là những gì họ tin rằng một sản phẩm dịch vụ nên cung cấp dựa trên kinh nghiệm trước đây của một công ty bao gồm bằng chứng vật chất, quy trình và con người (Booms và Bitner, 1981). Môi trường vật chất bao gồm hàng hóa tiện lợi và đầu mối hữu hình, có thể cần thiết hoặc ngoại vi cho dịch vụ đã mua; Quy trình đề cập đến hệ thống cung cấp dịch vụ; "Con người" bao gồm những nhân viên phục vụ đó (bao gồm liên hệ khách hàng và nhân viên văn phòng), những người là một phần của quá trình sản xuất dịch vụ. Ban lãnh đạo cũng nhận thức rõ hơn về nhu cầu của người tiêu dùng.
Những tiến bộ công nghệ đã cho phép các tổ chức tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi giữa khách hàng và công ty tại các đầu mối liên hệ, chẳng hạn như sử dụng máy rút nộp, rút tiền tự động và điểm giao dịch điện tử. 14 Ngoài ra, hệ thống thông tin quản lý/tiếp thị ngày càng phức tạp cho phép ban lãnh đạo thực hiện các ý tưởng hướng đến khách hàng mà gần như không thể thực hiện được một thập kỷ trước, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu để khai thác và phân khúc khách hàng.3 Chất ƣợng dịch vụ Nếu như hàng hóa là hữu hình thì dịch vụ là phạm trù vô hình. Vì đặc tính của dịch vụ là vô hình, nên rất khó đo lường chất lượng và do đó nó được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng, môi trường nghiên cứu và từng loại hình dịch vụ. Theo Zeithaml và Britner (2000) dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho KH làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của KH.
Theo Oliveira (2009) dịch vụ là hoạt động kinh tế tạo giá trị và cung cấp lợi ích cho KH tại thời gian cụ thể và địa điểm cụ thể như là kết quả của một sự thay đổi mong muốn, hoặc thay mặt cho người nhận (sử dụng) dịch vụ. Theo Kotler & Armstrong (1999), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà DN có thể cống hiến cho KH nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với KH. Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ (Parasuraman, 1988). Như vậy có thể thấy rằng chất lượng dịch vụ là một khái niệm bao hàm nhiều khía cạnh, nó là một chỉ tiêu tổng hợp của các nhân tố khác nhau.
Trong những lĩnh vực dịch vụ khác nhau nó lại được đo lường bởi những nhân tố khác nhau. Nhưng chung quy lại, bản chất của chất lượng dịch vụ nói chung được xem là mức độ một cá nhân hay tổ chức đáp ứng dịch vụ như thế nào so với nhu cầu hoặc mong đợi của KH, hay một cách định nghĩa khác là khoảng cách giữa sự mong đợi của KH và nhận thức của họ khi sử dụng qua dịch vụ. Mỗi KH có nhận thức và nhu cầu cá nhân khác nhau nên cảm nhận về chất lượng dịch vụ cũng không giống nhau. 15 Trong lĩnh vực ngân hàng, chất lượng dịch vụ là một nhân tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển.
Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ ngân hàng đã được thực hiện từ nhiều năm mang lại sự phát triển cả về lý thuyết và thực tiễn đặc biệt là việc phát triển và kiểm định thang đo chất lượng dịch vụ trong ngành ngân hàng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới. Thực tế cho thấy chất lượng cảm nhận của sản phẩm dịch vụ đang trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất trong kinh doanh trên toàn cầu.4 Dịch vụ khách hàng trong ngân hàng Một trong những phương tiện thiết yếu nhất để giữ khách hàng cũ và thu hút khách hàng mới là dịch vụ khách hàng trong ngân hàng. Nó bao gồm việc cung cấp các câu trả lời cho các khiếu nại và các câu hỏi của khách hàng một cách chi tiết và đúng thời gian cam kết cũng như liên hệ với khách hàng quen bằng cách tiến hành một cuộc gặp trực tiếp hoặc các phương tiện công nghệ khác như email, fax và điện thoại. Có thể nói, hầu như tất cả các nhân viên của ngân hàng đều tham gia vào nhiều mạng lĩnh vực khác nhau của dịch vụ khách hàng.
Các ngân hàng được yêu cầu phải chú trọng hơn vào khách hàng do sự cạnh tranh ngày càng cao trong lĩnh vực này. Như đã đề cập ở phần đầu của nghiên cứu, việc có thêm khách hàng tốn kém hơn so với việc duy trì những khách hàng truyền thống. Để duy trì lượng khách hàng thì các dịch vụ/ sản phẩm trong ngân hàng phải có khả năng đáp ứng các dịch vụ một cách nhanh chóng, chính xác và thuận tiện cho khách hàng (Osuagwu, 2009). Ngoài ra, Aliyu và Tasmin (2012) đã giải thích những cách thức mà khách hàng tiếp cận với việc cung cấp dịch vụ của các ngân hàng và họ bao gồm việc so sánh những dự đoán của họ trước và sau khi trải nghiệm dịch vụ, đồng thời khách hàng cũng trau dồi nhận thức trong quá trình tiếp cận dịch vụ và sau đó họ so sánh nhận thức của họ với dịch vụ thực tế mà họ nhận được từ nhân viên của ngân hàng.
Nghiên cứu đã đi xa hơn để xác định rằng kỳ vọng của khách hàng là khác biệt trước khi trải nghiệm một dịch vụ và điều này ảnh hưởng đến đánh giá của mỗi khách hàng về hiệu suất và mức độ hài lòng.