Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn: trong chƣơng này, chúng tôi tập trung làm rõ nguồn gốc cà phê và một số thuật ngữ liên quan đến đề tài luận văn. Đây là tiền đề lý luận mà chúng tôi sẽ sử dụng, tiếp cận trong quá trình thực hiện luận văn. Bên cạnh đó, chƣơng một cũng nhằm mục đích khái quát hóa các đặc điểm tự nhiên, dân cƣ và tiến trình văn hóa của vùng đất Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh.
Chƣơng một đƣợc xem là bƣớc cơ bản, làm nền tảng để thực hiện đề tài luận văn. Cà phê trong các phương diện đời sống của cư dân Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh: nội dung của chƣơng hai nhằm phân tích những đặc trƣng nổi bật của cà phê trong đời sống cƣ dân Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, thƣởng thức cà phê đƣợc xem nhƣ một nét văn hóa của ngƣời Sài Gòn đƣợc chúng tôi phân tích dựa trên tiêu chí nhƣ cà phê phân bố theo không gian, thời gian và theo đối tƣợng. Ngoài ra, nhằm chứng minh sự thích ứng của cà phê trong đời sống văn hóa của ngƣời dân, chúng tôi phân tích các góc độ nhƣ cà phê nhƣ một nét văn hóa của ngƣời Sài Gòn, tính phổ quát của cà phê trong đời sống của ngƣời dân.
Bên cạnh đó nêu lên đƣợc tính cách và văn hóa giao tiếp của cƣ dân qua việc thƣởng thức cà phê trong đời sống hàng ngày. Cà phê trong dòng chảy văn hóa của cư dân Sài Gòn từ truyền thống đến hiện đại: trong chƣơng ba, chúng tôi sẽ làm nổi bật bốn khía cạnh, một là cà phê nhìn từ văn hóa truyền thống thể hiện qua cách thức pha chế và nguyên liệu truyền thống. Thứ hai là cà phê trong văn hóa đƣơng đại cùng những biến đổi của cà phê tại Thành Phố Hồ Chí Minh. Thứ ba là cà phê trong nhận thức của ngƣời uống và thứ tƣ là những giá trị cần giữ gìn và phát huy liên quan đến thức uống này.
-15- CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cà phê: nguồn gốc và các thuật ngữ liên quan 1.1 Nguồn gốc của cà phê Cà phê lúc đầu là những cây dại mọc trong rừng thƣa hoặc ven bờ các con sông vùng Bắc và Trung Phi nhƣ: Abissinia, Libilia, Congo. Ở những nơi này ngƣời ta đã phát hiện nhiều cây cà phê dại (“Giáo trình cây cà phê”, 1967 – 1968, tr. Khi đó, Abyssinia (Ethiopia) là nƣớc có lịch sử dùng cà phê lâu đời. Khởi đầu, những thổ dân sống trong vùng lân cận vào rừng nhặt quả về uống nhƣ một vị thuốc, sau đó “vị đắng” của cà phê đã trở thành một loại thức uống cần thiết của họ (“Giáo trình cây cà phê”, 1967 – 1968, tr.
Về mặt phân loại, cây cà phê thuộc bộ cà phê Rubiales, họ cà phê Rubiacea, loài cà phê Coffea L. Cây cà phê chủ yếu sống ở vùng nhiệt đới. Trong tự nhiên, có khoảng bảy mƣơi loại hình cà phê khác nhau về hình dạng nhƣ thân, tán, lá. Về giá trị sử dụng, phần lớn các giống cà phê đều không chứa caffein ở trong hạt nên trong sản xuất không đề cập tới (Phạm Kiến Nghiệp, 1985, tr.
Một thông tin khác đƣợc các sách nhắc đến nhiều hơn khi bàn đến nguồn gốc của cà phê. Cụ thể, trong cuốn sách Cây cà phê Việt Nam cho rằng cà phê đƣợc phát hiện nhờ một ngƣời du mục Ethiopia. Trong một lần đi chăn, đàn gia súc của ông trở nên tỉnh táo, không để chủ lùa vào bãi trú đêm nhƣ mọi ngày. Lý do là vì chúng đã ăn một loại cây lạ mọc ở làng Capfa gần thủ đô Ethiopi.
Thấy vậy, ông đã nếm thử loài cây đó và cảm thấy sảng khoái tinh thần. Kể từ đó, mọi ngƣời trong làng đã truyền tai nhau về loài cây này và chúng trở nên phổ biến. Từ thế kỷ thứ VI, cà phê trở thành đồ uống hàng ngày đối với ngƣời dân Ethiopi. Loại cây này đƣợc coi là hiện tƣợng “thần kì” do tác dụng kích thích mạnh mẽ, rất nhanh chóng đƣợc lan qua Yemen, các nƣớc khác ở Trung Cận Đông, vƣợt Biển Đỏ sang Arập (Arabia) do đó cà phê có tên là Arabica.
Đến thế kỷ XVI các nhà buôn đã nhập khẩu cà phê vào châu Âu, sau đó cà phê lan dần sang châu Á, châu Đại Dƣơng. Giống cà phê -16- Arabica do ngƣời Hà Lan đƣa vào Sri Lanka, Colombia và Java (Indonesia) năm 1670. Cuối thế kỷ XVII cà phê đã dần phổ biến trên thế giới (Nguyễn Sỹ Nghi & Trần Anh Phong, 1998, tr. Theo Phạm Kiến Nghiệp (1985), cây cà phê theo chân các linh mục truyền giáo vào Việt Nam từ năm 1857, nó đƣợc trồng đầu tiên ở huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
Sau một thời gian trồng thử, năm 1888 cà phê đƣợc trồng trên phần đất của nhà thờ Kẻ Sở (Hà Nam Ninh). Đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp bắt đầu chính thức lập đồn điền trồng cà phê tại các địa điểm nhƣ Chi Nê (Hà Nam Ninh), Ba Vì (Hà Sơn Bình), Đồng Giao (Hà Nam Ninh), Phủ Qùy (Nghệ Tĩnh) và ở Tây Nguyên bắt đầu trồng từ năm 1930-1945. Ban đầu cây cà phê chè (Arabica) đƣợc trồng phổ biến, sau đó dịch bệnh rỉ sắt (hemileia vastatrix) đã tàn phá hầu hết các đồn điền (tr. Tác giả Phạm Kiến Nghiệp cũng nói thêm về sự du nhập các giống cà phê vào Việt Nam: Đƣợc biêt, cà phê Arabica năng suất thấp và không thích hợp với thổ nhƣỡng và khí hậu nên vào năm 1908 thực dân Pháp đã đƣa vào Việt nam loại cà phê vối (C.
Robusta) và cà phê mít (C. excelsa Chari) nhằm thay thế cho cà phê chè (Arabica) năng suất thấp. Sau đó, các đồn diền cà phê mới lại tiếp tục mọc lên ở Hà Tĩnh, Yên Mỹ (Thanh Hóa), Nghĩa Đàn (Nghệ An), Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông Nam Bộ nhƣ Bình Phƣớc và Đồng Nai. Trong hai năm, 1937 - 1938 tổng cộng trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 13.000 ha cà phê, sản xuất đƣợc 1.
Từ đó đến nay, sản lƣợng cà phê liên tục tăng đều qua các năm, tuy Việt Nam sản xuất cà phê khá cao 800.000 đến 1 triệu tấn cà phê mỗi năm nhƣng chỉ tiêu thụ 10%, phần còn lại tập trung cho xuất khẩu thô (tr. Hiện nay trên thị trƣờng Việt Nam phổ biến các loại cà phê nhƣ: cà phê chè, cà phê vối và cà phê mít. Cà phê chè (coffea arabica) là một loại cà phê mọc hoang dại ở vùng rừng ẩm ƣớt của miền núi phía Tây Nam Ethiopi. Loại cà phê này rất thích hợp với độ cao trên 800m do đƣợc trồng chủ yếu ở vùng thấp.
Cà phê vối (coffea robusta) có nguồn gốc ở Congo (Châu Phi), sống trong điều kiện địa hình -17- thấp, nóng ẩm, lặng gió, mƣa nhiều. Đây là loại cây dễ trồng, cây không yêu cầu đất tốt nhƣ cà phê chè, khả năng chống chịu sâu bệnh khá tốt. Cà phê vối không phù hợp với nơi lạnh, có sƣơng muối và vùng gió mạnh. Cây cà phê mít sinh trƣởng khỏe, dễ trồng, có khả năng kháng sâu bệnh khá, mặc dù bị gỉ sắt nhƣng mức độ gây hại không đáng kể.
Cây không yêu cầu về đất đai quá cao, khả năng chịu hạn của cây khá tốt. Nhƣng chất lƣợng cây kém vì hạt cà phê có vị chua, không có hƣơng thơm hoặc rất ít, vị của cà phê đắng (Phạm Kiến Nghiệp, 1985, tr. Có thể thấy cà phê đã và đang giữ một vị trí quan trọng trong đời sống của ngƣời dân bởi những công năng mà loại nƣớc uống này mang lại. Đến nay, cà phê là một trong ba “nguồn uống” chủ yếu trên thế giới hiện nay: chè, cà phê, ca cao.
Cà phê không chỉ đơn thuần là thức uống phục vụ nhu cầu của con ngƣời mà còn đem lại nhiều lợi ích cho sức khỏe với nhiều thành phần đƣợc cho là tốt cho sức khỏe. Cà phê có một hƣơng vị độc đáo, đồng thời có tác dụng sinh lý đặc biệt. Kích thích thần kinh, thông tiểu tiện, tăng cƣời hoạt năng của các bắp thịt, xúc tiến tốc độ tuần hoàn của máu (“Giáo trình cây cà phê”, 1968, tr. Hơn 100 hợp chất trong cà phê đã gây cho ta cảm giác dễ chịu, khoan khoái, Caphein trong hạt cà phê (1,2 – 3%), có tác dụng kích thích hệ thần kinh, tăng cƣờng chức năng hoạt động của hệ tuần hoàn và tiêu hóa.
Caphein đƣợc sử dụng nhƣ một dƣợc liệu trị bệnh đƣờng ruột, gây mê, hồi sức … trong hạt cà phê có một lƣợng sinh tố đáng kể, nhất là sinh tố PP1 có từ 10 – 40mg trong 100 gam hạt cà phê đã chế biến. Dƣới đây là bảng thống kê của chúng tôi về thành phần hóa học của cà phê. 1 Vitanmin PP chính là vitamin B3, hay niacin, thành phần của hai co-enzyme quan trọng trong cơ thể, đóng vai trò vận chuyển hydro và thực hiện các phản ứng ôxy hóa, tác động trực tiếp đến quá trình tổng hợp và phân hủy glucid, axit béo, axit amin, cholesterol. Chính vì thế, quá trình hô hấp, hô hấp tế bào rất cần có sự có mặt của vitamin PP.
nguồn: https://kenhphunu.com/vitamin-pp-la-gi-vitamin-pp-co-tac-dung-gi.html -18- Chất Nhân cà phê sơ chế Nhân cà phê chế biến Protein 15,94 13,38 Glucoza 0,23 0,17 Sacaroza 7,83 1,87 Dầu 18,24 11,97 Tinh bột 5,80 6,76 Caphein 1,27 1,31 Xenlucoza 13,77 17,94 Nguồn: Phạm Kiến Nghiệp (truy xuất từ sách Kỹ Thuật trồng cà phê ở Miền Nam, 1985, tr.6) Bên cạnh việc pha chế cà phê kết hợp với một số loại để tạo nên những ly nƣớc hấp dẫn, cà phê còn là nguyên liệu sản xuất nên các bánh, kẹo, sữa, rƣợu. Ngoài ra, thịt quả cà phê đƣợc tận dụng để chế biến thành rƣợu cà phê, làm thức ăn gia súc hoặc phân bón (Phạm Kiến Nghiệp, 1985, tr. Trong công nghệ làm đẹp, cà phê cũng đƣợc nghiên cứu cho ra đời các dòng sản phẩm làm trắng da, mặt nạ dƣỡng da bằng cách kết hợp cà phê với một số hƣơng liệu khác nhằm mang đến hiệu quả cao nhất. Bác sĩ Khánh Linh, tác giả của quyển sách 100 cách uống cà phê trị bệnh cho biết, có một số công dụng của cà phê nhƣ việc ngăn ngừa tác hại của tia tử ngoại, phòng ngừa bệnh sỏi thận, chống oxy hóa, bảo vệ tim mạch, ảnh hƣởng đến tinh thần của con ngƣời, cà phê giúp ngƣời uống tỉnh táo hơn, nhạy bén hơn, có năng lực tập trung tốt hơn (Khánh Linh, 2008, tr.
Tuy nhiên, tác giả cũng nêu ra giới hạn cho phép lƣợng cà phê mỗi ngày của mỗi ngƣời là khoảng 300 miligam Caphein (khoảng 3 cốc cà phê) sẽ có tác dụng tốt với tinh thần và độ nhạy bén của một ngƣời.