chương 1 tác giả đã phân tích các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi súc vật thả rông theo tập quán gây ra thiệt hại cho người khác. Thông qua việc nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử, tác giả đưa ra một số bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật về vấn đề này như sau: (i) Việc xác định người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ là chủ sở hữu súc vật là không phù hợp; (ii) Trong trường hợp người thứ ba hoàn toàn có lỗi làm súc vật thả rông gây thiệt hại thì việc bồi thường thiệt hại được xác định theo khoản 2 hay khoản 4 của BLDS năm 2015, và trong trường hợp súc vật thả rông bị người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 3 hay khoản 4? (iii) Khoản 4 Điều 603 BLDS năm 2015 quy định vấn đề bồi thường thiệt hại do súc vật thả rông theo tập quán gây ra chỉ được giải quyết theo tập quán là chưa phù hợp. Thông qua việc nghiên cứu các quy định hiện hành và thực tiễn xét xử, tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật thả rông theo tập quán gây ra, từ đó góp phần hoàn chỉnh khung pháp lý điều chỉnh về các vấn đề bất cập hiện nay. BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO SÚC VẬT THẢ RÔNG KHÁC GÂY RA Súc vật cũng là một loại tài sản, do đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra mang những đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là quy định của luật Dân sự mà khi áp dụng sẽ phát sinh một quan hệ pháp luật dân sự. Theo đó, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng để tài sản gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác phải bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra” 14. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là một loại trách nhiệm dân sự xuất phát từ hoạt động của tài sản mà không có sự can thiệp từ hành vi của con người. Trên cơ sở học thuyết trách nhiệm khách quan (trách nhiệm nghiêm ngặt), có thể thấy rằng đây là trách nhiệm không dựa trên yếu tố lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng tài sản.
Khi tài sản gây thiệt hại, người chịu trách nhiệm bồi thường không chỉ có chủ sở hữu mà còn có thể là các chủ thể khác. Cơ sở để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường là sự vi phạm quy định pháp luật về quản lý tài sản hoặc những lợi ích mà họ được hưởng do tài sản đó mang lại. Cho dù việc bồi thường thiệt hại có thể được thực hiện theo những phương thức khác nhau do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định thì nó cũng đều thể hiện những hậu quả bất lợi về vật chất mà chủ thể bồi thường phải gánh chịu. Người được bồi thường có thể là người chịu sự xâm phạm trực tiếp từ tài sản hoặc là những người có liên quan (ví dụ như thân nhân của người bị xâm phạm tính mạng, người chăm sóc người bị xâm phạm sức khỏe trong thời gian điều trị, …), nhưng đó phải là người phải bỏ ra những chi phí để khắc phục những thiệt hại do tài sản gây nên, bao gồm những thiệt hại về vật chất và cả những tổn thất về tinh thần.
Do đó, thiệt hại được bồi thường cũng bao gồm những tổn thất về vật chất và những tổn thất về tinh thần15. Từ những phân tích này, trách nhiệm bồi thường thiệt do súc vật gây ra cũng là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt tài sản gây ra. Trên thực tế, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt do súc vật gây ra vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập cần 14 Trần Thị Huệ (2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Nxb. Chính trị - Hành chính, Hà Nội, tr.
15 Nguyễn Văn Hợi (2017), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, tr. 18 được hoàn thiện để có sự thống nhất trong hoạt động xét xử tại Toà án và hạn chế tranh chấp phát sinh trên thực tế. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật thả rông khác gây ra Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định có lợi cho người bị thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại, buộc người gây thiệt hại phải bồi thường đối với những thiệt hại về tài sản, sức khoẻ, tính mạng hay tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong luật dân sự, phát sinh khi xảy ra một trong các căn cứ pháp luật quy định.
Như vậy, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra có thể hiểu là những căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do pháp luật quy định điều chỉnh các quan hệ nghĩa vụ về tài sản giữa các chủ thể đối với thiệt hại do súc vật gây ra mà khi xuất hiện những căn cứ này, các chủ thể phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cũng là một dạng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Do đó, các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cũng tuân theo quy định về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung. Thiệt hại do súc vật thả rông khác gây ra a) Có thiệt hại do súc vật thả rông khác gây ra Điều kiện tiên quyết làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra nói riêng là có thiệt hại xảy ra trên thực tế.
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm khôi phục lại tình trạng tài sản hoặc bù đắp những tổn thất về tài sản, sức khỏe, tính mạng, tinh thần cho người bị thiệt hại do đó việc có thiệt hại xảy ra là một trong những tiền đề làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Vì vậy, nếu không có thiệt hại xảy ra thì không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại ngay cả khi đáp ứng được đầy đủ các điều kiện khác. Tương tự như trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng hay các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khác, pháp luật ấn định điều kiện phát sinh thiệt hại về mặt thực tế để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, thiệt hại được bồi thường phải rõ ràng, cụ thể và có thực trên thực tế chứ không được mơ hồ, dự báo hoặc chưa xảy ra.
Do đó, quy định về điều kiện bồi thường về thiệt hại xảy ra là một quy định hợp lý. 19 Theo quy định tại Điều 687 BLDS năm 2015 thì các bên được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng cho việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp không có thỏa thuận thì pháp luật của nước nơi phát sinh hậu quả của sự kiện gây thiệt hại được áp dụng. Trường hợp bên gây thiệt hại và bên bị thiệt hại có nơi cư trú, đối với cá nhân hoặc nơi thành lập, đối với pháp nhân tại cùng một nước thì pháp luật của nước đó được áp dụng.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm bồi thường các thiệt hại xảy ra có thể liệt kê bao gồm hai loại trách nhiệm: trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tổn thất về tinh thần. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì thiệt hại do súc vật gây ra bao gồm: (i) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm. (ii) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mấy uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm. và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.
Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin… vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu. Cụ thể theo quy định tại Điều 589, Điều 590, Điều 591, Điều 593 BLDS năm 2015 thì thiệt hại do súc vật gây ra được hiểu là sự mất mát mà một chủ thể về tài sản, sức khỏe, tính mạng hoặc tinh thần. Thiệt hại xảy ra là điều kiện tiên quyết làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Theo đó: (i) Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm: Việc xác định việc bồi thường của người gây thiệt hại đối với tài sản của chủ sở hữu thì căn cứ pháp lý để xác định được quy định tại Điều 589 BLDS năm 2015 về xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Theo đó: “Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm: 1. Tài sản bị mất, bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng; 2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; 20 3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; 4.
Thiệt hại khác do luật quy định”.