CHƯƠNG 1 THIỆT HẠI VẬT CHẤT ĐƯỢC BỒI THƯỜNG KHI HÌNH ẢNH CÁ NHÂN BỊ XÂM PHẠM 1.1 Xác định thiệt hại vật chất được bồi thường khi hình ảnh cá nhân bị xâm phạm Trong thời đại công nghệ kỹ thuật số phát triển vượt bậc và nhanh chóng như hiện nay, việc hình ảnh của cá nhân bị lạm dụng trái ý muốn của cá nhân đang diễn ra tràn lan và khó kiểm soát khi mà mạng xã hội là nơi kết nối giữa mọi người từ thân quen đến xa lạ với nhau. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân nhằm mục đích thương mại phi pháp hay đơn giản là nhằm mục đích vụ lợi cá nhân thì đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ, chỉ cần mất vài giây để hình ảnh của một cá nhân lan truyền trên mạng xã hội, mất vài giây là có hàng trăm, hàng nghìn lượt bình luận đánh giá, bình phẩm về tấm hình vừa đăng. Vì vậy, việc xem trọng nhu cầu bảo vệ hình ảnh của chính cá nhân là rất cần thiết và quan trọng. So với quy định quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong BLDS năm 2005, quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh trong BLDS năm 2015 đã cụ thể chi tiết hơn.
Điều này có ý nghĩa trong bối cảnh quyền của cá nhân đối với hình ảnh hiện đang bị vi phạm tràn lan do sự phát triển của mạng xã hội, các phương tiện truyền thông đại chúng cũng như sự lỏng lẻo của các quy định trước đây về quyền của cá nhân đối với hình ảnh1. Do đó, những thiệt hại được bồi thường khi hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm nên được chú trọng và có số tiền bồi thường thiệt hại phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Theo quy định của pháp luật dân sự, khi mà hình ảnh cá nhân bị thiệt hại gây ảnh hưởng đến nhân phẩm, danh dự, uy tín của cá nhân thì thiệt hại vật chất được bồi thường bao gồm: chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút và thiệt hại khác do luật quy định2. Trong thiệt hại vật chất này, các chi phí được bồi thường ngoài điều kiện phải là thiệt hại thực tế đã xảy ra thì còn phải đáp ứng các điều kiện: thiệt hại phải thuộc trường hợp được pháp luật cho phép yêu cầu bồi thường và phải cung cấp được hóa 1 Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ Luật dân sự năm 2015, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.
2 Khoản 1, Điều 592 BLDS năm 2015. 11 đơn, chứng từ liên quan. Đối với cá nhân bị xâm phạm hình ảnh, việc họ phải thu thập bằng chứng để tiến hành khởi kiện đòi lại quyền lợi chính đáng của mình khá khó khăn, bởi lẽ, trước khi tiến hành khởi kiện tại tòa án, cá nhân bị thiệt hại có thể đã gửi đơn đến chính quyền địa phương yêu cầu chấm dứt ngay hành vi xâm phạm và xử phạt hành chính. Tuy nhiên, chi phí đi lại, in ấn, lập vi bằng cá nhân đó lại không cung cấp được hóa đơn, chứng từ để yêu cầu được bồi thường vì lý do lạc mất hoặc thiếu hiểu biết pháp luật nên không thể thu thập lại được.
Cụ thể, ở nhiều miền quê khi người dân di chuyển không phải lúc nào họ cũng có thể xin được xác nhận chi phí đi lại mỗi lần là bao nhiêu, cũng không có xe ôm công nghệ hoặc những lúc đi photo tài liệu không thể mỗi lần đều xin hóa đơn và không phải tiệm nào cũng sẽ viết cho hóa đơn, rồi đến lúc khởi kiện ra Tòa án cá nhân không thể cung cấp lại những thiệt hại mà họ đã bỏ ra. Do đó, đối với quy định bồi thường về chi phí đi lại, in ấn khi cá nhân không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thì pháp luật cũng nên xem xét để có biện pháp đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Trong một số trường hợp, người bị thiệt hại tìm đến luật sư, nhờ tư vấn pháp lý thì cá nhân lại phải bỏ ra một khoản tiền nhất định. Trong khi khoản chi phí thuê luật sư này không thuộc trường hợp được pháp luật quy định, do đó, dù người bị thiệt hại yêu cầu cũng không được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
Đây thực chất cũng là chi phí phát sinh mà người bị thiệt hại phải bỏ ra để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, vì vậy, chi phí này nên được tính vào thiệt hại về vật chất để yêu cầu bồi thường. Thiệt hại vật chất là thiệt hại thực tế, có thể tính được bằng trị giá, đây là chi phí mà người vi phạm có trách nhiệm bồi thường để bù đắp những tổn thất mà cá nhân đã phải gánh chịu trong quá trình khắc phục hậu quả do hình ảnh cá nhân bị xâm phạm. Bởi lẽ, nếu không có thiệt hại xảy ra hoặc trường hợp người gây thiệt hại đã chấp nhận bồi thường toàn bộ thiệt hại, hai bên có thể thương lượng được với nhau thì người bị xâm phạm cũng không phải mất thời gian, công sức để nhờ tư vấn pháp luật và dùng thời gian, tiền bạc của mình để yêu cầu khởi kiện đòi lại công bằng cho mình. Do đó, cần đề xuất bổ sung chi phí người bị thiệt hại mời luật sư tư vấn, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân khi họ tiến hành khởi kiện yêu cầu bồi thường.
Do vậy, theo quan điểm tác giả cần sửa đổi, bổ sung trường hợp các khoản chi phí cho người bị thiệt hại đã bỏ ra dù không cung cấp được hóa đơn chứng từ và chi 12 phí để được tư vấn pháp luật, mời luật sư, đại diện ủy quyền thay mặt cá nhân tham gia tố tụng là chi phí cần được bồi thường do thiệt hại về vật chất khi hình ảnh cá nhân bị xâm phạm.2 Phương thức giải quyết bồi thường thiệt hại về vật chất khi hình ảnh cá nhân bị xâm phạm 1.1 Điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường Hiện nay chưa có quy định nào giải thích rõ ràng quyền của cá nhân đối với hình ảnh nhưng thông qua các quy định của pháp luật dân sự thì có thể đúc kết như sau: “Quyền của cá nhân đối với hình ảnh” là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, theo đó cá nhân được phép tạo dựng, sử dụng hình ảnh chứa đựng nội dung riêng tư, phản ánh các đặc điểm bên ngoài của bản thân mình và cho phép người khác sử dụng hình ảnh theo ý chí của cá nhân đó”. Vì quyền của cá nhân đối với hình ảnh được pháp luật ghi nhận là quyền dân sự của cá nhân, cho phép cá nhân trực tiếp sử dụng hình ảnh, quảng bá hình ảnh của bản thân, được đăng tải, công khai hình ảnh nhưng phải đảm bảo thực hiện quyền nhưng không phương hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, không trái với pháp luật, đạo đức xã hội3. Việc sử dụng hình ảnh của người khác thì phải được người đó hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đồng ý và phải trả thù lao nếu có phát sinh lợi nhuận4. Do đó, khi xảy ra sự xâm hại quyền hình ảnh của cá nhân thì theo pháp luật hiện hành, vẫn có chế tài để bảo vệ người bị thiệt hại, cụ thể theo khoản 3 Điều 32 BLDS năm 2015 : “Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.” Dưới góc độ khoa học pháp lý: Thiệt hại là sự thay đổi biến thiên theo chiều xấu đi của tài sản, của các giá trị nhân thân do pháp luật bảo vệ5 hoặc có thể hiểu: 3 Điều 3, khoản 1 Điều 9, Điều 10 BLDS 2015.
4 Khoản 1 Điều 32 BLDS 2015. 5 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Hồ Thị Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, tr.
13 thiệt hại là sự mất mát hoặc giảm sút thực tế về tài sản, thể chất hoặc tinh thần6. Do đó, những thiệt hại được bồi thường khi hình ảnh của cá nhân bị xâm phạm được hiểu là: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Theo quy định BLDS, thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút7. Tại văn bản hướng dẫn của BLDS cũng có nêu: “thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được của chủ thể bị xâm phạm, bao gồm tổn thất về tài sản mà không khắc phục được; chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút do tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác bị xâm phạm”8.
Theo nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã nêu rõ cách xác định chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút9. Theo đó, người bị thiệt hại phải cung cấp các tài liệu, chứng từ chứng minh thì mới được Tòa án xem xét và giải quyết. Trong trường hợp người bị thiệt hại không cung cấp được hóa đơn, chứng từ để chứng minh cho yêu cầu bồi thường của mình thì tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP và các văn bản hướng dẫn của BLDS chưa giải quyết được vấn đề này. Trong khi đó, theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 thì quy định: đối với chi phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu nếu như người yêu cầu không xuất trình được hóa đơn, chứng từ hợp pháp thì mức bồi thường được tính không quá 06 tháng lương cơ sở tại thời điểm thụ lý cho 01 năm tính từ thời điểm bắt đầu khiếu nại hoặc tố cáo hoặc tham gia tố tụng cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực10.