Chương 1: Lý luận chung về bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng theo luật thương mại 2005 Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng theo luật thương mại 2005 và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật 8 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI VÀ BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI ĐỐI VỚI KHOẢN LỢI TRỰC TIẾP ĐÁNG LẼ ĐƢỢC HƢỞNG THEO LUẬT THƢƠNG MẠI 2005 1.1 Khái niệm, nguyên tắc bồi thƣờng thiệt hại và bồi thƣờng thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ đƣợc hƣởng 1.1 Khái niệm về bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng Pháp luật đang ngày càng tiến bộ và hoàn thiện hơn để phù hợp với sự thay đổi của xã hội, trong đó có những quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh buộc những chủ thể trong những quan hệ này phải tôn trọng và tuân thủ những quy tắc nhất định, không thể vì lợi ích cá nhân của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Khi một quan hệ được xác lập và được điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật, nếu một chủ thể vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chủ thể đó phải chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm của mình gây ra. Việc gánh chịu hậu quả bất lợi đó bằng việc bù đắp những tổn thất, mất mát cho bên bị vi phạm do hành vi vi phạm của mình được xem là bồi thường thiệt hại. Với nhu cầu phát triển của xã hội, để đảm bảo quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức thì Nhà nước bắt buộc mọi người đều phải tôn trọng các quyền đó của các chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào xâm phạm đến các quyền của họ, nếu vi phạm mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Xuất phát từ mục đích đó, cho nên dù được quy định dưới các góc độ và phạm vi khác nhau nhưng bồi thường thiệt hại đều có thể hiểu là một loại quan hệ dân sự phát sinh do lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại cả thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần1. 1 Hội đồng phối hợp, phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính Phủ (2010), Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Đặc san tuyên truyền pháp luật, Hà Nội, tr.2 9 Trong quan hệ hợp đồng, nếu hành vi vi phạm của một bên gây ra những thiệt hại, tổn thất cho bên còn lại thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm đó gây ra. Bởi trong quan hệ hợp đồng mỗi bên đều được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp như nhau, sự vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại của một bên trong quan hệ hợp đồng sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích vật chất của bên kia. Do đó bồi thường thiệt hại được đặt ra làm cho hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia trong quan hệ thương mại trở nên vô hại về mặt vật chất đối với bên bị vi phạm hợp đồng.
Bên bị vi phạm được khôi phục lại tình trạng trước khi vi phạm gây thiệt hại và thỏa mãn những quyền lợi chính đáng mà đáng lẽ mình phải được hưởng. Bồi thường thiệt hại trong khoa học pháp lý có thể được khái quát như một chế tài tiền tệ dùng để bù đắp những thiệt hại thực tế cho bên bị thiệt hại2. Trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế, bồi thường thiệt hại là hình thức trách nhiệm được tất cả các hệ thống pháp luật trên thế giới áp dụng3. Trong trường hợp bên có quyền bị vi phạm đã áp dụng các hình thức trách nhiệm khác thì họ vẫn không đương nhiên mất quyền đòi bồi thường thiệt hại.
Vì thế, có thể coi bồi thường thiệt hại là một giải pháp vạn năng cho mọi trường hợp vi phạm nghĩa vụ hợp đồng4. Trong pháp luật của nhiều nước cũng có quy định về chế tài bồi thường thiệt hại như một biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị vi phạm. Cụ thể, trong Bộ luật dân sự Nhật Bản, tại điều 415 quy định “người có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu người có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ phù hợp với tinh thần và mục đích của nó”. Trong Bộ luật dân sự Pháp cũng có quy định về bồi thường thiệt hại như sau: “người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do không thực hiện hoặc thực hiện chậm nghĩa vụ”.
Luật thương mại Việt Nam cũng quy định chi tiết về chế tài bồi thường thiệt hại, cụ thể tại khoản 1 Điều 302 Luật thương mại 2005: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”. 2 Nguyễn Thị Dung (2001), Áp dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh, NXB chính trị quốc gia Hà Nội, tr.93 3 Trường Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh (2009), Giáo trình Luật hợp đồng và thương mại quốc tế, Nxb Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh, tr.87 4 Nguyễn Ngọc Khánh (2007), Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam, Nxb Tư Pháp, Hà Nội, tr.433 10 Bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm pháp lý phát sinh do hành vi vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho chủ thể khác. Tại Việt Nam, theo từ điển tiếng Việt, trách nhiệm có thể được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là “phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả’; Thứ hai là “ sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”. Theo hai cách định nghĩa như trên, trách nhiệm có nhiều điểm tương đồng với nghĩa vụ nhưng nó cũng hàm chứa một điểm khác biệt quan trọng là yếu tố hậu quả xảy ra.
Với trách nhiệm pháp lý, tức trách nhiệm đã được các quy phạm pháp luật điều chỉnh và bảo vệ, các “hậu quả” này sẽ là “hậu quả bất lợi” được áp đặt lên những chủ thể đã có hành vi vi phạm pháp luật5. Trong quan hệ thương mại, khi hợp đồng được giao kết thì quyền của bên này sẽ là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, việc vi phạm do cố tình hay vô ý của một bên gây thiệt hại thì bên bị vi phạm phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên bị vi phạm, mặc dù điều khoản bồi thường thiệt hại không được các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã giao kết trước đó. Quy định như vậy đã phần nào bảo vệ trọn vẹn quyền lợi hợp pháp cho chủ thể bị thiệt hại. Bởi hành vi vi phạm của một bên đã làm cho mục đích giao kết hợp đồng của các bên không những bị “phá vỡ” mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của họ.
Do đó, pháp luật đã đặt ra chế tài bồi thường thiệt hại như một biện pháp để bên vi phạm có thể khắc phục lỗi của mình bằng cách bù đắp những tổn thất đó. Có thể hiểu bồi thường thiệt hại là một hình thức chế tài vật chất được áp dụng cho bên vi phạm, trừ những trường hợp được miễn trách nhiệm, nhằm bồi thường những tổn thất mà bên bị vi phạm phải gánh chịu và khoản lợi mà đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng. Theo đó, chế tài bồi thường thiệt hại thể hiện mục đích là bù đắp, bồi hoàn toàn bộ thiệt hại thực tế cho bên bị vi phạm hơn là trừng trị bên có hành vi vi phạm hợp đồng6. 5 Lê Văn Tranh (2018), Luận giải về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại theo luật thương mại Việt Nam, Nxb.153-154 6 Nguyễn Phú Cường (2009), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – thương mại, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP.8 11 Như vậy, chế tài bồi thường thiệt hại là một chế tài mang tính tài sản, việc bồi thường thiệt hại chính là bồi thường những tổn thất thực tế bị mất mát do hành vi vi phạm của một bên trong quan hệ hợp đồng.
Về lý thuyết, bồi thường thiệt hại là làm cho hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia trong quan hệ thương mại trở nên vô hại về mặt vật chất đối với bên bị vi phạm hợp đồng7. Từ đó cũng có thể hiểu, bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ bên bị vi phạm được hưởng là việc bên vi phạm phải bồi thường cho bên bị vi phạm những lợi ích về vật chất hoặc phi vật chất mà bên bị vi phạm đáng lẽ sẽ nhận được nếu như hai bên thực hiện đúng như thỏa thuận trong hợp đồng. Bồi thường thiệt hại đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng cũng được xem là một biện pháp pháp lý mà khi một chủ thể có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây thiệt hại cho khoản lợi mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng thì phải bồi thường. Mục đích chính của biện pháp này là nhằm bù đắp, khôi phục lại lợi ích vật chất, khoản lợi mà bên bị vi phạm đáng lẽ sẽ có được nếu hợp đồng được thực hiện.
Đây là một giải pháp để bảo đảm quyền lợi cho các bên khi hợp đồng bị vi phạm, cân bằng lợi ích cho các bên có liên quan trong quan hệ hợp đồng. Thiệt hại là khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng là một loại thiệt hại khá đặc biệt nên khi quy định về bồi thường đối với thiệt hại này pháp luật cũng cần phải cân nhắc.2 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại Thứ nhất, bồi thường thiệt hại được áp dụng theo nguyên tắc “toàn bộ” và “kịp thời”. Bồi thường thiệt hại toàn bộ có nghĩa là thiệt hại phải được bồi thường đầy đủ. Bên bị thiệt hại phải được đền bù đầy đủ để có thể khôi phục lại lợi ích bị tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra8.