phần mở đầu là tương tác phần đưa ra tình huống, phần còn lại được sáng tạo bởi những người tham gia. Tham quan dã Là hoạt động cho HS đi thăm các nhà mày, xí nghiệp, danh ngoại lam thắng cảnh,…nổi tiếng của địa phương, giúp các em có thể học hỏi kinh nghiệm, trải nghiệm, từ đó trau dồi kĩ năng kiến thức và có thể áp dụng vào cuộc sống. Hội thi/cuộc Là hoạt động được GV, nhà trường tổ chức thi đua giữa các thi cá nhân, tập thể, tạo môi trường cạnh tranh đạt được mục tiêu mong muốn bằng việc tìm ra người thắng cuộc. Hoạt động Là hoạt động tổ chức cho HS được tiếp xúc, trò chuyện và giao lưu trao đổi thông tin với những người có sức ảnh hưởng trong các lĩnh vực nào đó.
Từ đó giúp HS có được nhận thức, tình cảm, thái độ phù hợp nhờ những lời khuyên, truyền cảm hứng để vươn lên trong học tập, rèn luyện hoàn thiện bản thân. Vai trò của hoạt động trải nghiệm Đối với quá trình dạy học, dạy học thông qua trải nghiệm là một phương pháp có nhiều ưu điểm và kích thích được các tiềm năng trí tuệ của trẻ. Là cầu nối giữa nhà trường, kiến thức các môn học,…với thực tiễn cuộc sống một cách có tổ chức, có định hướng, góp phần tích cực vào hình thành và củng cố năng 6 lực và phẩm chất nhân cách. Ngoài ra, việc tổ chức HĐTN còn giúp giáo dục thực hiện được mục đích tích hợp và phân hoá nhằm phát triển các năng lực thực tiễn, đa dạng hoá tiềm năng sáng tạo của người học; nuôi dưỡng và phát triển đời sống tình cảm, ý chí tạo động lực hoạt động, tích cực hoá bán thân.
Đối với yêu cầu về phẩm chất và NL chung trong Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể [1]: “Hoạt động trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp phát triển các phẩm chất chủ yếu, năng lực cốt lõi của học sinh trong các mối quan hệ với bản thân, xã hội, môi trường tự nhiên và nghề nghiệp; được triển khai qua bốn mạch nội dung chính: Hoạt động hướng vào bản thân, Hoạt động hướng đến xã hội, Hoạt động hướng đến tự nhiên và Hoạt động hướng nghiệp.” Vì vậy có thể thấy HĐTN có ưu thế trong việc thúc đẩy hình thành ở người học các NL đặc thù như: NL HĐ và tổ chức HĐ; NL tổ chức và quản lí cuộc sống; NL tự nhận thức và tích cực hoá bản thân; NL định hướng nghề nghiệp; NL khám phá và sáng tạo. Do tính mở trong mục tiêu đầu ra của HĐTN mà hình thức giáo dục này khá đa dạng nhưng lại khó xác định mức độ chung, nhất là khi nó gắn với cảm xúc – lĩnh vực mang tính chủ quan cao, đồng thời kết quả thu được từ HĐTN mang đậm dấu ấn cá nhân người trải nghiệm. Vì thế, nói đến HĐTN cũng đồng thời gắn với sự sáng tạo và tính phân hoá đối tượng HĐ. Những yêu cầu khi tổ chức hoạt động trải nghiệm Khi tổ chức hoạt động trải nghiệm, giáo viên cần đảm bảo các yêu cầu sau: - Xác định mục tiêu học tập: Giáo viên cần xác định mục tiêu học tập của hoạt động trải nghiệm để có thể thiết kế hoạt động phù hợp.
Mục tiêu học tập cần được xác định rõ ràng và cụ thể để giáo viên và học sinh có thể hiểu được những gì cần đạt được trong hoạt động trải nghiệm. - Chuẩn bị kỹ lưỡng: Giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho hoạt động trải nghiệm, bao gồm việc chuẩn bị tài liệu, dụng cụ và thiết bị cần thiết. Việc chuẩn bị kỹ lưỡng giúp giáo viên có thể tổ chức hoạt động trải nghiệm một cách hiệu quả và tránh những sự cố không mong muốn. 7 - Tạo điều kiện cho học sinh tham gia tích cực: Giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh tham gia tích cực vào hoạt động trải nghiệm, khuyến khích học sinh thể hiện ý kiến và tham gia vào quá trình thực hiện.
Việc này giúp học sinh có thể hiểu biết sâu sắc hơn về nội dung học tập và phát triển kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp. - Đánh giá và phản hồi: Sau khi hoàn thành hoạt động trải nghiệm, giáo viên cần đánh giá kết quả học tập của học sinh và đưa ra phản hồi để giúp học sinh cải thiện kết quả học tập. Việc đánh giá và phản hồi giúp giáo viên có thể điều chỉnh phương pháp dạy học để phù hợp với năng lực và nhu cầu của học sinh. Ngoài ra, giáo viên cũng cần đảm bảo an toàn cho học sinh trong quá trình thực hiện hoạt động trải nghiệm và tuân thủ các quy định về an toàn lao động.
Việc này giúp bảo vệ sức khỏe của học sinh và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động trải nghiệm. Tổ chức hoạt động trải nghiệm là một phương pháp dạy học hiệu quả, giúp học sinh có thể hiểu biết sâu sắc hơn về nội dung học tập và phát triển các kỹ năng quan trọng. Để tổ chức hoạt động trải nghiệm một cách hiệu quả, giáo viên cần chuẩn bị kỹ lưỡng và tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tham gia tích cực. Năng lực sáng tạo 1.
Khái niệm năng lực sáng tạo Có nhiều nghiên cứu đã đưa ra khái niệm năng lực sáng tạo. Dưới góc độ tâm lí học: “NLST là cốt lõi của hoạt động sáng tạo, làm tiền đề bên trong của sáng tạo, hoạt động sáng tạo, đặc biệt nó được dựa trên chất lượng của năng lực tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, xúc cảm, động cơ và ý chí” [11] Theo Phan Dũng, NLST là khả năng tạo ra cái mới có giá trị của cá nhân dựa trên tổ hợp các phẩm chất độc đáo của cá nhân đó [4] Nguyễn Thị Hồng Gấm cho rằng: “Năng lực sáng tạo của mỗi cá nhân thể hiện ở chỗ cá nhân đó có thể mang lại những giá trị mới, sản phẩm mới có ý nghĩa. Người có năng lực sáng tạo phải có tư duy sáng tạo” [6] 8 Theo Phạm Thị Bích Đào, “NLST là khả năng thực hiện được những điều sáng tạo, là quá trình hình thành những ý tưởng mới, tạo ra sản phẩm mới hoặc đưa ra những cách thức mới nhận xét sự vật. NLST của mỗi cá nhân thể hiện ở chỗ cá nhân đó có thể mang lại những giá trị mới, những sản phẩm mới có ý nghĩa” [5] Qua nhiều nghiên cứu, tuy văn phong có khác nhau, nhưng cốt lõi NLST có thể hiểu là: Năng lực sáng tạo trong học tập chính là năng lực phân tích tình huống học tập để tìm ra cái mới, suy nghĩ không theo lối mòn, tạo ra ý tưởng mới dựa trên những ý tưởng khác nhau, biết đặt câu hỏi có giá trị, sẵn sàng xem xét, đánh giá…ở mức độ nào đó thể hiện được khuynh hướng, năng lực sáng tạo, kinh nghiệm của cá nhân học sinh.
Năng lực nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng không phải chỉ đi đôi với nhau mà còn được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động của học sinh. Năng lực sáng tạo có thể được phát triển thông qua việc thực hành và rèn luyện. Có nhiều cách để phát triển năng lực sáng tạo, bao gồm việc tham gia vào các hoạt động sáng tạo, thử thách bản thân với những vấn đề mới và khó khăn, và học hỏi từ những người có năng lực sáng tạo cao. Ngoài ra, môi trường học tập và làm việc cũng có ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực sáng tạo.
Một môi trường học tập và làm việc tích cực, khuyến khích sự sáng tạo và cho phép thất bại có thể giúp con người phát triển năng lực sáng tạo của mình Dựa vào khái niệm về năng lực sáng tạo, cũng như tham khảo các tài liệu, ví dụ như Tài liệu tập huấn “Hướng dẫn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển 40 năng lực học sinh cấp trung học phổ thông môn Vật lí 2014” thì có thể đánh giá NLST của học sinh thông qua các biểu hiện sau: a) Nhận ra ý tưởng mới, mạnh dạng đưa ra những ý tưởng mới không theo lối mòn. b) Hình thành và triển khai ý tưởng mới, biết vận dụng tri thức để giải quyết vấn đề hoặc vận dụng vấn đề để đưa ra những sáng kiến. c) Kết hợp tư duy sáng tạo đưa ra kết luận chính xác, ngắn gọn. 9 d) Trình bày kết quả một cách linh hoạt, độc đáo.
Dự kiến được nhiều phương án thay thế. e) Có động cơ học tập tốt, tự học hỏi, kết hợp phương tiện kĩ thuật , công nghệ thông tin vào quá trình học tập. f) Ý chí học tập tốt, tự biết đánh giá bản thân và công việc để tìm ra những biện pháp học tập hoàn thiện nhất. Cấu trúc năng lực sáng tạo của HS Trong Chương trình giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể, bộ giáo dục có đề cặp đến cặp năng lực chung – Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, có thể hiểu đơn giản là khả năng giải quyết vấn đề học tập để tìm ra những cái mới mẻ ở một mức độ nào đó.
Và ở đề tài này, tôi chọn năng lực sáng tạo để tập trung nghiên cứu. Chương trình GDPT mới đề cập đến NLST như một trong những NL chung cần được hình thành và phát triển ở mỗi học sinh qua các môn học. Không chỉ riêng NLST, bất kì cấu trúc NL nào cũng được xác định dựa trên ba thành tố cốt lõi của NL đó là: Kiến thức, kĩ năng, phẩm chất của học sinh. Để có khả năng sáng tạo ra cái mới trong môn học, học sinh cần được trang bị kiến thức nền một cách kĩ lưỡng, thấu đáo về mặt nội dung, ý nghĩa sâu rộng của bài học.
Mặt khác, học sinh còn cần được có môi trường sáng tạo, bao gồm môi trường vật chất và môi trường tinh thần trong lớp học. Giáo viên là người tạo cơ hội, khích lệ, động viên học sinh sáng tạo bằng những hoạt động dạy học cụ thể. Ngoài ra, để phát triển NL sáng tạo, học sinh không chỉ có khả năng nhận thức mà còn có niềm say mê, tò mò, chủ động tìm tòi khám phá những cái mới mẻ trong môn học. Dựa vào khái niệm đã nêu ra, căn cứ vào sơ đồ cấu trúc NL của Griffin, tham khảo luận văn [7], và một số công trình nghiên cứu như cấu trúc của NLST được nêu ra như sơ đồ 1 sau: 10 Cấu trúc năng lực sáng tạo Hình thành, Đưa ra các Vận dụng linh Đánh giá và tự triển khai ý phương án kiểm hoạt, sáng tạo đánh giá kết tưởng mới chứng vào thực tiễn quả đạt được Sơ sồ 1.