Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC NHẰM BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Khái niệm năng lực Theo chương giáo dục phổ thông chương trình tổng thể: NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam: NL đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó. NL gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. NL có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân). NL là sự tổ hợp những thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân nhằm đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nhất định và đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả cao (Huỳnh Văn Sơn, et al, 2018).
Ngoài ra còn có một số định nghĩa khác về năng lực như sau: Những thuộc tính tâm lí nào của các nhân là điều kiện để hoàn thành tốt những loại hoạt động nhất định gọi là NL. NL là những đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có hiệu quả hoạt động đó. NL là sự phù hợp của một tổ hợp những thuộc tính nào đó của cá nhân với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, được thể hiện ở sự hoàn thành tốt đẹp hoạt động ấy. Luan van 6 NL là tổ hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoàn thành có kết quả tốt trong hoạt động ấy.
NL là tổ hợp tất cả các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả (Lê Thị Bừng, 2008). Như vậy ta có thể định nghĩa NL như sau: NL là sự tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân nhằm đáp ứng yêu cầu của một hoạt động nhất định và hoàn thành được kết quả mong muốn đối với hoạt động đó trong những điều kiện cụ thể. Cấu trúc của năng lực a. Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo nguồn lực hợp thành NL là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, niềm tin, sự sẵn sàng hoạt động.
Có thể hiểu đó là hướng tiếp cận cấu trúc của NL theo nguồn lực hợp thành. Weinert cho rằng NL gồm ba yếu tố cấu thành là khả năng, kĩ năng và thái độ sẵn sàng tham gia hoạt động của cá nhân. Gần với ý kiến của F. Weinert, Đặng Thành Hưng cho rằng NL gồm ba thành tố cơ bản là tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ), trong đó “yếu tố cốt lõi trong bất cứ NL cụ thể nào đều là kĩ năng (hoặc những kĩ năng).
Những thứ khác trong NL như tri thức, thái độ, tình cảm, tâm vận động, sức khỏe. cũng rất quan trọng, song thiếu kĩ năng thì chúng trở nên kém giá trị mặc dù không phải hoàn toàn vô dụng”. Đề tài nghiên cứu cấp Bộ, năm 2011 của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam do Lương Việt Thái làm chủ nhiệm cũng khẳng định: “NL được cấu thành từ những bộ phận cơ bản: 1) Tri thức về lĩnh vực hoạt động hay quan hệ nào đó; 2) Kĩ năng tiến hành hoạt động hay xúc tiến, ứng xử với (trong) quan hệ nào đó; 3) Những điều kiện tâm lí để tổ chức và thực hiện tri thức, kĩ năng đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõ ràng, chẳng hạn ý chí - động cơ, tình cảm - thái độ đối với nhiệm vụ, hoặc nói chung là tính tích cực trí tuệ, tính tích cực giao tiếp, tính tích cực học tập…”. Luan van 7 Theo nhóm nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, “mỗi một thứ trong 3 cấu tạo tâm lí nói trên khi tách riêng nhau ra đều là những dạng chuyên biệt của NL: có loại NL ở dạng tri thức (NL nhận thức), có loại NL ở dạng kĩ năng (NL làm), và có loại NL ở dạng xúc cảm, biểu cảm (NL xúc cảm).
Khi kết hợp cả 3 thứ lại, vẫn là NL, nhưng mang tính chất hoàn thiện hơn và khái quát hơn” (Hoàng Hòa Bình, 2015). Theo Hoàng Hòa Bình mối quan hệ giữa các nguồn lực hợp thành NL là tri thức, kĩ năng và thái độ với sự thể hiện của chúng trong hoạt động là NL hiểu, NL làm và NL ứng xử. Đó là mối quan hệ giữa nguồn lực (đầu vào) với kết quả (đầu ra), nói cách khác là giữa cấu trúc bề mặt với cấu trúc bề sâu của NL. Nhận thức này có ý nghĩa rất lớn trong giáo dục.
Nếu chúng ta chỉ tập trung vào mục tiêu cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và tổ chức đánh giá những mặt đó thì mới chỉ dừng lại ở đầu vào. Một chương trình phát triển NL phải nhằm hình thành, phát triển và kiểm soát được, đo lường được các chỉ số ở đầu ra. Có thể hình dung cấu trúc của NL theo các nguồn lực hợp thành bằng sơ đồ sau (Hoàng Hòa Bình, 2015): CẤU TRÚC BỀ MẶT (ĐẦU VÀO) Kiến thức Kĩ năng Thái độ NL Hiểu NL Làm NL Ứng xử CẤU TRÚC BỀ MẶT (ĐẦU RA) Hình 1. Sơ đồ cấu trúc năng lực theo nguồn lực hợp thành (Hoàng Hòa Bình, 2015) Luan van 8 - Tri thức là một hệ thống kiến thức được cá nhân biến thành của riêng mình.
Tri thức là thành tố rất quan trọng để đánh giá một người có NL hay không. Sự thông hiểu vấn đề, việc biết rõ bản chất sự việc là điều kiện không thể thiếu để chủ thể hoạt động có hiệu quả cao. NL của con người được hình thành và phát triển dựa trên hai loại tri thức căn bản là tri thức phổ thông và tri thức chuyên môn (Huỳnh Văn Sơn, et al, 2018). - Kĩ năng là một hệ thống các thao tác chủ thể để được phối hợp một cách nhuần nhuyễn để thực hiện công việc có hiệu quả mà ít tiêu hao năng lượng.
Kĩ năng là cách thức vận dụng tri thức và hoạt động thực tiễn, là phương pháp thực hành của chủ thể để hoạt động được hoàn thành nhanh chóng, đúng yếu cầu và đảm bảo tiến độ. Một người có tri thức nhưng thiếu kĩ năng thực hành cũng chỉ là một người lý thuyết suông (Huỳnh Văn Sơn, et al, 2018). - Thái độ là cách nhìn nhận về công việc, về nhiệm vụ, về người khác và về cộng đồng. Thái độ chi phối cách ứng xử, hành vi và tinh thần trách nhiệm (Huỳnh Văn Sơn, et al, 2018).
Qua sơ đồ về cấu trúc NL theo nguồn hợp thành, chúng ta có thể thấy được tại nhà trường hiện nay không chỉ nên bồi dưỡng đơn thuần kiến thức, kĩ năng và thái độ mà còn phải chuyển đổi chúng thành NL thật sự cho HS. Đồng thời, tạo điều kiện cho HS có thể hình thành, bộc lộ và phát triển được NL của bản thân. Từ đó HS có thể giải quyết được các vấn đề gặp phải trong cuộc sống hằng ngày. Tiếp cận cấu trúc của năng lực theo năng lực bộ phận Khác với các tài liệu nói trên, Nguyễn Lan Phương không quan niệm cấu trúc NL bao gồm tri thức, kĩ năng, thái độ.
mà gồm ba thành phần chính sau đây: - Hợp phần (components of competency ): là các lĩnh vực chuyên môn tạo nên NL. - Thành tố (element): là các NL hoặc kĩ năng bộ phận tạo nên mỗi hợp phần. - Hành vi (behaviour): bộ phận được chia tách từ mỗi thành tố. Theo cách hiểu của Hoàng Hòa Bình, phân tích NL thành các hợp phần, thành tố và hành vi là tiếp cận cấu trúc của NL theo NL bộ phận.
Luan van 9 - Trước hết, mỗi NL chung hoặc đặc thù đều được phân tích thành các NL bộ phận. - Tiếp theo, mỗi NL bộ phận lại được phân tích thành các NL bộ phận ở bậc thấp hơn, cụ thể hơn, cho đến khi xác định được các hành vi thể hiện ra bên ngoài của chúng. Các NL bộ phận (và hành vi) nói trên có thể đồng cấp với nhau, bổ sung cho nhau. Cách phân giải cấu trúc NL nói trên là sự bổ sung cho cách phân giải cấu trúc theo nguồn lực hợp thành.
Bởi vì có hình dung được đầy đủ các NL bộ phận và hành vi biểu hiện của chúng thì mới có thể thiết kế được chương trình giáo dục, tức là mới xác định được các yếu tố đầu vào (nguồn lực) về kiến thức, kĩ năng, thái độ và phân bổ chúng theo các trình độ phù hợp với yêu cầu phát triển NL ở mỗi lớp học, cấp học. Kết hợp hai cách phân giải cấu trúc NL, nội dung đánh giá kết quả giáo dục sẽ dựa trên một ma trận bao gồm các chỉ số phát triển NL bộ phận và chỉ số về NL hiểu, NL làm và NL ứng xử (Hoàng Hòa Bình, 2015). Phân loại năng lực NL được được phân làm 4 loại: NL chuyên môn, NL về phương pháp, NL xã hội, NL cá thể. NL chuyên môn là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn.
Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động, NL về phương pháp là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. NL phương pháp bao gồm NL phương pháp chung và NL phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.