CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Khái quát về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận 1. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận 1.
Khái niệm công chức Trong lịch sử nền công vụ, Nhà nước nào cũng cần xây dựng và quản lý đội ngũ công chức để họ có năng lực, trình độ, chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt. Công chức là thuật ngữ được nhiều quốc gia sử dụng, nhưng có thể thấy, định nghĩa khái niệm này không có sự thống nhất chung do tùy thuộc tính chất đặc thù mỗi quốc gia cũng như từng thời kỳ lịch sử. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người tham gia hoạt động quản lý Nhà nước. Một số nước có quan niệm rộng hơn, công chức bao gồm tất cả những người làm việc trong cơ quan, tổ chức có tính chất công quyền.
Như vậy, phạm vi công chức Mỹ chỉ là những người thực thi công vụ trong ngành hành chính. Với hướng tiếp cận của Cộng hòa Pháp, những người hoạt động công vụ bao gồm “Toàn bộ những người được Nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ (vùng, tỉnh, công xã) bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong một số công sở hay một số công sở tự quản và được biên chế vào một ngạch của nền hành chính công” [24,18]. Theo cách định nghĩa này, công chức Pháp gồm công chức trong 6 các ngạch hành chính nhà nước, công chức thuộc cộng đồng lãnh thổ trực thuộc cơ quan chính quyền địa phương và công chức trực thuộc các công sở tự quản. Khác với Cộng hòa Pháp, theo Luật Công chức của Vương quốc Anh từ năm 1859 thì công chức là “Các nô bộc của nhà vua, không phải là những người giữ các chức vụ chính trị hoặc tư pháp, những viên chức dân sự hưởng lương trực tiếp và hoàn toàn từ ngân sách được Nghị viện thông qua” [17].
Như vậy, chỉ những người làm việc trong ngành hành chính mới được gọi là công chức; nhân viên chính trị, nhân viên tư pháp, quân đội đều không phải là công chức. Nhìn chung các quan niệm, định nghĩa đều cho rằng công chức có một số đặc trưng cơ bản sau: - Là công dân quốc gia đó. - Được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển; - Giữ một công vụ thường xuyên; - Làm việc trong cơ quan Nhà nước; - Hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Ở Việt Nam, công chức là một thuật ngữ được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Khái niệm này không chỉ gắn liền với sự hình thành, ra đời của nền hành chính nhà nước mà còn gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể. Đặc biệt với sự phát triển của kinh tế- xã hội đã đặt ra yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, khái niệm công chức cũng được quy định cụ thể và chi tiết hơn. Tại Việt Nam, công chức được quy định tại khoản 2, điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt 7 Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.” Để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ mới, Khoản 1, điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật cán bộ, công chức và luật viên chức năm 2019 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức 2008 như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Qua đó có thể thấy, khái niệm mới theo Luật Cán bộ, công chức 2008 sửa đổi năm 2019 không còn đối tượng công chức là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội mà đã sửa đổi, bổ sung, khẳng định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với “vị trí việc làm”. Như vậy, để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ của cải cách hành chính trong thời kỳ kinh tế- xã hội phát triển, đòi hỏi cần gắn chức danh công chức tương ứng với vị trí việc làm cụ thể. Tại điều 7 Luật Cán bộ, công chức 2008 giải thích: “Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị”. Đây là bước tiến mới, là tiền đề để xây dựng cách thức trả lương tương ứng với vị trí việc làm.
8 Tóm lại, công chức là một khái niệm mang tính lịch sử và phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia; công chức Việt Nam đã xác định phạm vi những đối tượng là công chức khái quát hơn và có các đặc trưng cơ bản sau: - Là công dân Việt Nam; - Được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm; - Làm việc trong cơ quan nhà nước ở Trung ương, địa phương (trong các tổ chức chính trị- xã hội, Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước). - Giữ nhiệm vụ thường xuyên ở một ngạch. - Hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Trong quan hệ quyền lực nhà nước, chức năng riêng biệt của cơ quan hành pháp là tổ chức thực hiện, thi hành Hiến pháp và các đạo luật do Quốc hội ban hành.
Hành pháp luôn là chức năng được vận hành thường xuyên, liên tục bằng một bộ máy với đội ngũ công chức chuyên nghiệp có chức năng tổ chức thực thi pháp luật trong mọi mặt của đời sống. Từ đó, UBND quận là cơ quan hành pháp, là cơ quan hành chính nhà nước đồng thời thực hiện chức năng hành chính nhà nước. UBND quận do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND. UBND thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước ở địa phương trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh.góp phần đảm bảo sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở.
Trong đó, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận đóng vai trò quản lý các lĩnh vực ở địa phương, tham mưu cho UBND quận. Tại điều 1 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; trong đó quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện gồm có phòng và cơ quan tương đương phòng (gọi chung là phòng). 9 Cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận là cơ quan tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND. Về nhiệm vụ, quyền hạn: Nghị định quy định bổ sung các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý được giao; theo dõi thi hành pháp luật.
Về cơ cấu tổ chức: Nghị định quy định 10 cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm: 1- Phòng Nội vụ; 2-Phòng Tư pháp; 3-Phòng Tài chính - Kế hoạch; 4-Phòng Tài nguyên và Môi trường; 5-Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; 6-Phòng Văn hoá và Thông tin; 7-Phòng Giáo dục và Đào tạo; 8-Phòng Y tế; 9-Thanh tra huyện; 10-Văn phòng HĐND&UBND hoặc Văn phòng UBND nơi thí điểm không tổ chức HĐND. Khái niệm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận chính là một bộ phận của công chức nhà nước nói chung, làm việc trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND quận. Họ được giao những chức trách và thẩm quyền cụ thể để giúp UBND quận thực hiện những chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Là bộ phận quan trọng cấu thành nên các cơ quan quản lý nhà nước ở quận, công chức UBND cơ quan chuyên môn quận đóng vai trò chủ yếu và quyết định hiệu quả công việc trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan này, mà cao hơn chính là kết quả công tác của UBND quận.