mở đầu bằng một "câu hỏi hóc búa" về vật lí, trong đó có mô tả một hiện tượng li kì với mục đích cuốn hút sinh viên. "Câu hỏi hóc búa" này liên quan mật thiết tới nội dung vật lí của chương và bức ảnh minh họa cho câu hỏi hóc búa cũng được lựa chọn sao cho gây được ấn tượng mạnh cho người đọc. Việc trả lời câu hỏi hóc búa sẽ tim thấy (một cách định tính) trong các tiết của chương hoặc (một cách định lượng) trong các bài toán mẫu. Các bài toán mẫu Nội dung các bài toán mẫu đề cập tới mọi vấn đề nêu ra trong chương.
Các bài toán mẫu này được cấu tạo sao cho sinh viên cd dịp thông qua một bài toán mà làm việc cùng với tác giả để thấy rõ cách bất đầu với một câu hỏi và cách kết thúc với một câu trả lời. Các bài toán mẫu tạo mệt cái cầu nối từ bài giảng vật lí tới các bài tập và bài toán ở cuối mỗi chương. Chúng cũng giúp sinh viên phân loại các khái niệm, thuật ngữ, kí hiệu, và củng cố kỉ năng toán học. Các chiến thuật giải bài toán Su quan tâm đặc biệt tới việc phát triển ki năng giải bài toán của sinh viên là một điểm nổi bật của cuốn sách.
Trong mục "Các chiến thuật giải bài toán" các tác giả nhấn mạnh kỉ thuật và ki năng giải bài toán, xem lại cái logic của các bài toán mẫu và biện luận các điều hiểu lầm thường gặp về thuật ngữ và về khái niệm vật lí. Phần lớn các hướng dẫn học tập này nằm ở các tập sách đầu của bộ sách, chỗ mà sinh viên cần giúp đỡ nhiều nhất ; các hướng dẫn này cũng thấy ở các tập sau khi xuất hiện các tình huống đặc biệt rắc rối. Các câu hỏi, bài tập và bài toán Tập hợp các câu hỏi, bài tập và bài toán ở cuối mỗi chương vượt xa mọi giáo trình nhập môn về vật lí về sự rộng lớn và sự phong phú. Các tác giả đã đưa vào một số lượng đáng kể các câu hỏi, các bài tập và bài toán mới về ứng dụng và lí thuyết.
Việc sử dụng rộng rãi các hình vẽ và ảnh chụp đã giúp cho việc minh họa tốt các câu hỏi, các bài tập và bài toán. Các câu hỏi Các câu hỏi định tính (chi cần suy nghỉ, mà không phải tính toán trước khi trả lời) eó khoảng 1150 câu. Dé là một nét đặc biệt của cuốn sách. Các câu hỏi này liên hệ mật thiết với các hiện tượng xảy ra quanh ta hằng ngày nhằm gợi tính tò mò và gây hứng thú và nhấn mạnh những khái niệm vật lí.
Các bài tập và bài toán Tổng số các bài tập và bài toán vào khoảng 3400 bài. Các bài tập kí hiệu bằng chữ E, ghi sau số thứ tự, đặc trưng cho loại toán một bước hoặc một công thức hoặc chỉ trình bày một ứng dụng. Nó tạo cho sinh viên tự tin vào việc giải toán. Các bài toán được kí hiệu bằng chữ P, ghi sau số thứ thự ; trong đó mộtsố ít bài có trình độ cao hơn được đánh dấu sao (*) sau số thứ tự.
Thêm vào việc phân thành loại E và P, các bài cũng được sắp xếp theo mức độ khó của từng mục của chương. Mục đích của các tác giả là đơn giản hớa quá trình lựa chọn của thầy giáo trước tài liệu phong phú hiện có. Do đó, người dạy cơ thể thay đổi nội dung cần nhấp mạnh và mức độ khó cho phù hợp với thị hiếu và việc đào tạo lớp sinh viên, đồng thời vẫn dành một khối lượng lớn bài tập và bài toán cho nhiều năm giảng dạy khác. Các bài toán bổ sung Cuối phần lớn các chương còn cớ "các bài toán bổ sung".
Khi giải các bài toán, không được chỉ dẫn về chương mục này, sinh viên phải tự chọn cho minh những nguyên lí vật lí thích hợp. Các ứng dụng và tiểu luận Các tác giả cũng đã đưa vào các chương, nhiều ứng dụng của vật If vào ki thuật, công nghệ học, y học, cũng như những hiện tượng quen thuộc thường ngày. Ngoài ra trong bộ sách còn có 17 tiểu luận do các nhà khoa học có tên tuổi viết và phân bố vào những chỗ thích hợp của giáo trình, về ứng dụng của vật lí vào những chủ đề mà sinh viên đặc biệt thích thú như khiêu vũ, thể thao, hiệu ứng nhà kính, lade, phép chụp toàn ảnh v. Phần lớn các tiểu luận, có chỉ dfn những tài liệu trong phạm vi chương trước và chứa đựng những câu hỏi để thu hút sinh viên trong quá trình suy nghỉ.
Để thuận tiện cho việc in ấn và sử dụng, bộ sách dịch này được chia thành sáu tập và được phân công dịch như sau : ° Tập 1 : Cơ học - I gồm 10 chương do PGS NGÔ QUỐC QUÝNH và ĐÀO KIM NGỌC Tap 2 : Cơ học - II gồm 8 chương do PGS NGO QUỐC QUÝNH và PGS.PTS PHAN VĂN THÍCH Tap 3 : Nhiệt động học gồm 4 chương do PGS.PTS NGUYEN VIET KÍNH Tap 4 : Điện học - I gồm 7 chương do GS DAM TRUNG DON và PGS.PTS LÊ KHẮC BÌNH Tap 5 : Điện học - II gồm 9 chương do GS ĐẦM TRUNG DON và PGS.PTS LÊ KHAC BÌNH ‘Tap 6. Quang học và Thuyết tương đối gồm 4 chương do PGS.PTS PHAN VAN THÍCH Theo chủ trương của Vụ Đào tạo Đại học Bộ Giáo dục và Đào tạo bộ sách này được dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập ở giai đoạn 1 (Đại học Đại cương) của các trường Đại học và Cao đẳng trong toàn quốc. Bộ sách này cũng là tài liệu tham khảo hữu ích của các cán bộ kỉ thuật và cán bộ nghiên cứu các ngành có liên quan tới Vật lí và các thẩy cô giáo của các trường phổ thông. Bộ sách được xuất bản lần đầu nên chác không tránh khỏi một số thiếu sót.
Chúng tôi hoan nghênh các nhận xét, phê bình cho bộ sách từ các độc giả để các lần xuất bản sau bộ sách được hoàn thiện hơn. Thư góp ý xin gửi về NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC, 81 Trần Hưng Đạo Hà Nội 4 NHA XUAT BAN GIAO DUC - ĐO LƯỜNG 1 Bạn có thể quan sát Mặt Troi lặn và biến mất trên mặt đại dương phẳng lặng một lần khi bạn nằm trên bái biển và một lần nữa nếu bạn đứng dậy. Ngạc nhiên thay , bằng cách đo khoảng thời gian gitla hai lần Mặt Trời lăn bạn có thể tính gần đúng được bán kính của Trái Đất. Vậy có thể sử dụng nhu thế nào một quan sát đơn giản nhu vậy mà đo được Trái Đất ? ị 1-1.
ĐO LƯỜNG Vật lí dựa trên đo lường. Khoảng thời gian giữa hai tiếng lích kích của máy đếm là bao nhiêu ? Nhiệt độ của héli lỏng trong bình là bao nhiêu ? Bước sóng ánh sáng của một nguồn lade nào dé là bao nhiêu ? Cường độ dòng điện trong một dây dẫn điện | là bao nhiêu ? Và còn rất nhiều câu hỏi khác. Chúng ta bat đầu học vật lí bằng việc học đo đạc các đại lượng gap trong các định luật của vật lí. Trong các đại lượng do có độ dài, thời gian, khối lượng, nhiệt độ, áp lực và điện trở.
Hàng ngày chúng ta thường sử dụng các từ này. Thí dụ bạn có thể nói : "Tôi muốn tim mọi cách để giúp anh miễn là anh đừng gây áp lực với tôi". Trong vật lí các từ như độ dai và áp luc có ý nghĩa chính xác mà chúng ta không được nhầm với ý nghĩa thường ngày (thường là mơ hổ) của chúng. Thực tế ý nghia khoa học chính xác của độ dài và áp lực không có gì chung với ý nghĩa của chúng trong câu nói hàng | ngày.
Va điều đó có thể là một sự rắc rối : theo nhà vật lí Robert Oppenheimer thi | "Thường thì chính việc các từ khoa học cũng là các từ của cuộc sống và ngôn ngữ thông thường nên cơ thể làm người ta hiểu sai hơn là hiểu đúng" | Để mô ta một đại lượng vật lí trước tiên chúng ta định nghĩa một đơn vị ; do là } một số do đại lượng được lấy chính xác bang 1,0. Sau dé chúng ta định nghĩa một | chuẩn, đó là một vật mốc để người ta so sánh tất cả các mâu khác của đại lượng đó. Thí dụ đơn vị của độ dài là mét, và như các bạn sẽ thấy, chuẩn cho mét là độ dài mà ánh sáng đi được trong chân không trong một phần nào đó của giây. Chúng ta được tùy ý chon để định nghĩa đơn vị và chuẩn của nd.
Điều quan trọng là phải làm sao cho | các nhà khoa học trên toàn thế giới nhất trí là các định nghĩa của chúng ta vừa hợp | li, vừa thực tế. | Một khi chúng ta đã xác lập một chuẩn, chẳng hạn cho độ đài, thì chúng ta phải | đưa ra cách xác định độ dài bất kì, dù đó là bán kính của nguyên tử hiđrô, của bánh | xe trượt, hay khoảng cách tới một ngôi sao, theo chuẩn đó. Nhiều phép so sánh của ta phải làm gián tiếp. Chẳng hạn bạn không thể dùng một cái thước để đo hoặc bán kính của một nguyên tử hoặc khoảng cách tới một ngôi sao.
Có nhiều đại lượng vật lí như vậy, nên vấn dé là cần sắp xếp chúng lại. May thay không phải tất cả đều độc lập. Thí dụ tốc độ là thương số của độ đài và thời gian. Vậy nhiệm vụ của ta là rút ra - theo thỏa thuận quốc tế - một số nhỏ các đại lượng vật lí, như độ dài và thời gian, và chỉ xác lập chuẩn cho chúng.
Sau đó chúng ta định nghĩa tất cả các đại lượng vật lí khác theo những đợi iượng co bản này và các chuẩn của _ chúng. Thí dụ tốc độ được định nghĩa theo các đại lượng cơ bản là độ dài và thời gian và các chuẩn cơ bản kết hợp. if Các chuẩn cơ bản phải vừa khả dung vừa không đổi. Nếu chúng ta định nghĩa chuẩn độ dai là khoảng cách giữa mũi và ngớn tay trỏ của cánh tay duéi thẳng, thi rõ rang là chúng ta có một chuẩn khả dụng nhưng di nhiên no sẽ thay đổi từ người này đến người khác.
Đòi hỏi về độ chính xác của khoa học và công nghệ lại thúc ép chúng ta | một cách khác. Chúng ta quan tâm đến tinh bất biến trước tiên, sau dé cố gắng lam | các bản sao các chuẩn cơ bản thành khả dung cho những ai cẩn chúng.