CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Khái niệm Bộ ba bất khả thi Bộ ba bất khả thi là một lý thuyết kinh tế cho rằng không thể thực hiện đồng thời ba chính sách gồm chế độ tỉ giá hối đoái cố định, chính sách tiền tệ độc lập để ổn định giá cả và tự do lưu chuyển vốn. Một bộ ba giải pháp nói về các quốc gia có ba lựa chọn để chọn khi đưa ra những quyết định cơ bản về việc quản lý các thỏa thuận chính sách tiền tệ quốc tế của mình. Quốc gia chỉ có thể thực hiện đồng thời hai trong ba chính sách này. Thuật ngữ “bộ ba bất khả thi” còn dùng để chỉ tình thế kinh tế không thể đạt được mong muốn, thậm chí phải đối mặt với hậu quả nặng nề khi quốc gia đó cố tình thi hành ba chính sách trên cùng lúc.2 Lý do theo đuổi ba mục tiêu này Ba mục tiêu này là công cụ giúp chính phủ điều tiết nền kinh tế và đảm bảo lợi ích cho quốc gia.
Tỷ giá hối đoái cố định hay còn gọi là ổn định tỷ giá sẽ giúp ổn định giá cả và đảm bảo nghĩa vụ nợ quốc tế. Chính sách tiền tệ độc lập giúp kiểm soát lạm phát, ổn định cán cân vãng lai qua điều chỉnh mức cung tiền và lãi suất, bỏ qua vấn đề về tỷ giá. Cuối cùng là tự do hóa dòng vốn là cơ sở thúc đẩy các dòng vốn quốc tế vào nội địa quốc gia và ngược lại, từ đó giúp mở rộng thị trường cho doanh nghiệp.3 Ba nhân tố của lý thuyết Bộ ba chính sách bất khả thi 1.1 Tỷ giá hối đoái cố định Tỷ giá hối đoái cố định là các tỷ giá được quy định mang tính áp đặt trong thực hiện các giao dịch liên quan. Chế độ này được áp dụng bởi chính phủ hoặc ngân hàng trung ương của một quốc gia.
Đưa ra quy định ràng buộc tỉ giá hối đoái chính thức của quốc gia này với tiền tệ của quốc gia khác hoặc giá vàng, tức là phản ánh tính chất trong đo lường giá trị của đồng tiền một quốc gia qua các giá trị khác. Tính chất cố định khác với chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi hoàn toàn. Mục đích: giữ giá trị của một loại tiền tệ trong một phạm vi hẹp. Các giao dịch thực hiện phải đảm bảo căn cứ trên tỉ giá.
Trong chê đọ tỉ giá cô đinh, tỉ giá se do Ngan hang Trung uo ng â n đinh ta i mọt mưc cu thê. Tâ t ca cac tac nha n trong nê n kinh tê đuơ c yeu câ u phai giao dich ta i mưc tỉ giá đa quy định nay. Khi một quốc gia áp dụng chính sách tỷ giá hối đoái cố định sẽ có được những lợi ích như sau: - Chê đọ tỉ giá cô đinh giup cho viẹc điê u hanh tiê n tẹ co tinh nguye n tă c va kỉ luạt cao, kiểm soát lạm phát, tạo môi trường tiềm năng cho người tiêu dùng. Yeu se kho ng cho phep Nga n hang Trung uo ng co thê tuy câ u duy tri tỉ giá cô đinh tiẹn ta ng cung tiê n va gay ra la m phat.
Khi đó, trong một thời gian dài, các sản xuất hay kinh doanh bình ổn trong giá trị. Người tiêu dùng với các nhu cầu không đổi vẫn được phục vụ đầy đủ. - Mang tính bình ổn, đảm bảo các lợi ích, độ tin cậy cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hoạt động đầu cơ luôn hiện hữu trên thị trường.
Nếu theo đuổi chế độ tỷ giá thả nổi thì nền kinh tế sẽ bị dao động liên tục theo tỷ giá. Điều này sẽ làm méo mó giá cả hàng hóa xuất, nhập khẩu. Nó đi chệch với các tính toán ban đầu và làm thâm hụt lợi nhuận của các nhà đầu tư. Như vậy, việc lập kế hoạch kinh doanh và đầu tư gặp nhiều khó khăn, thậm chí cản trở đầu tư của các doanh nghiệp xuyên quốc gia.
Từ đó sẽ kìm hãm đầu tư quốc tế, quốc gia cũng khó mở rộng thị trường. Tỷ giá hối đoái cố định sẽ giúp giải quyết vấn đề này, đảm bảo lợi ích cho các nhà kinh doanh và nền kinh tế quốc gia. - Tạo lợi nhuận trong xuất nhập khẩu: Chế độ này cho phe p chinh phu co thê sư du ng cong cu tỉ giá đê đat cac mu c tieu kinh tê vi mo.2 Chính sách tiền tệ độc lập Khái niệm: Chính sách tiền tệ độc lập là những chính sách mà nhà nước thực hiện nhằm mục đích điều tiết kinh tế, nhưng không quan tâm đến những chính sách tỷ giá tăng hay giảm hay các biến số vĩ mô khác. Mục đích: Chính sách này được thực hiện để kiểm soát cung tiền trong nền kinh tế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định về kiểm soát lạm phát, ổn định tài chính, tỷ lệ thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế được đặt ra trong từng thời kỳ.3 Tự do hóa dòng vốn Khái niệm: Tự do hoá tài khoản vốn là việc cho các chủ thể được tự do tiến hành chuyển đổi các tài sản tài chính trong nước thành tài sản tài chính nước ngoài và ngược lại theo tỷ giá hối đoái do thị trường quy định.
Hay nói cách khác thì tự do hoá tài khoản vốn tức là tự do hoá các nguồn vốn vào và các nguồn vốn ra khỏi một quốc gia. Tháo dỡ những ràng buộc: - Đối với người không cư trú đầu tư vào thị trường tài chính trong nước. - Đối với người cư trú đầu tư ra thị trường quốc tế. Tự do hóa tài khoản vốn cho phép họ thực hiện các hoạt động ở nước ngoài như mở tài khoản ngân hàng, tham gia hoạt động đầu tư nhằm đạt lợi nhuận cao.
Các doanh nghiệp được phép đầu tư và sở hữu những công ty khác, các dòng vốn được tự do lưu chuyển giữa các bên như hình dưới đây: Hình 1.3: Các dòng vốn quốc tế tự do lưu chuyển của một quốc gia với quốc tế Những lợi ích khi áp dụng chính sách tự do lưu chuyển vốn: - Đầu tư có thể được tài trợ bằng nguồn vốn vay rẻ hơn từ bên ngoài thay vì chỉ có tiết kiệm trong nước. - Nhà đầu tư có thể được hưởng lợi nhuận bình quân cao hơn từ tiết kiệm của mình bằng cách đầu tư vào thị trường mới nổi. - Chính phủ phải đối mặt với kỷ luật của thị trường vốn quốc tế nếu có những quyết sách sai lầm. - Nâng cao hiệu quả thị trường tài chính trong nước với sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế khi có cạnh tranh mạnh hơn, kỷ luật thị trường tốt hơn.
- Rủi ro và thách thức: nhiều thách thức đặt ra trong việc quản lý nền kinh tế, chẳng hạn như dòng vốn vào quá lớn sẽ gây áp lực lên giá đồng nội tệ. Điều này tạo ra tình thế tiến thoái lưỡng nan: + Nếu để mặc cho đồng tiền lên giá sẽ làm suy yếu sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước. + Nếu can thiệp tiền tệ để giữ tỷ giá sẽ làm cho nền kinh tế nóng lên, gây áp lực lạm phát. + Nếu sử dụng biện pháp trung hòa sẽ càng thu hút thêm dòng vốn bên ngoài đổ vào hơn.4 Lý do không thể áp dụng đồng thời bộ ba chính sách Hình 1.4: Mô hình tam giác bộ ba bất khả thi Bộ ba bất khả thi là 3 đỉnh của tam giác: (1) là tỷ giá hối đoái cố định, (2) là tự do hóa dòng vốn, (3) là chính sách tiền tệ độc lập.
Một nước phải chọn một cạnh của tam giác và từ bỏ góc đối diện. Như vậy, quốc gia đó chỉ được chọn hai trong ba mục tiêu trên. - Với (2) và (3): vừa muốn dòng vốn tự do ra vào, vừa muốn kiểm soát dòng tiền (tăng hay giảm) thì tỷ giá không thể cố định được do tỷ giá thay đổi khi lượng cung tiền thay đổi. - Với (1) và (2): khi tỷ giá cố định với dòng tiền tự do ra vào thì chính sách tiền tệ (3) không có hiệu lực do khi biến động lãi suất sẽ làm chênh lệch tỷ giá hối đoái.
- Với (1) và (3): khi tỷ giá cố định kết hợp với chính sách tiền tệ độc lập thì sẽ tạo nhiều lợi ích cho kinh tế trong nước, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ chịu thiệt nên không rót vốn vào. CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở CÁC NƯỚC 2.1 Lý do lựa chọn chính sách tự do dòng vốn và tỷ giá hối đoái cố định Hồng Kông đã lựa chọn chính sách tự do dòng vốn và tỷ giá hối đoái cố định trong số ba chính sách của “Bộ ba chính sách bất khả thi” để áp dụng cho đất nước mình. Hồng Kông có quyết định như vậy là do Hồng Kông là một nền kinh tế nhỏ, cởi mở và nổi tiếng về tự do kinh tế. Theo US-based Heritage Foundation, Hồng Kông là nước có nền kinh tế tự do nhất thế giới trong 24 năm liên tiếp từ năm 1996 – 20191.
Bên cạnh đó, Hồng Kông cũng được đánh giá là nước có nền kinh tế mở nhất thế giới theo “Chỉ số mở cửa kinh tế toàn cầu năm 2019” của Viện Legatum (Legatum Institute: Global Index of Economic Openness 2019). Vì vậy, tỷ giá hối đoái cố định có thể giúp các doanh nghiệp quản trị rủi ro tốt hơn và thúc đẩy các hoạt động tài chính – thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, Hồng Kông là một trung tâm thương mại – tài chính quốc tế cởi mở nên tỷ giá hối đoái cố định là điều cần thiết để duy trì sự ổn định kinh tế và xã hội của Hồng Kông. Trong lịch sử của Hồng Kông, hệ thống tỷ giá hối đoái cố định là một chuẩn mực hơn là một ngoại lệ.
Điều này đã phần lớn phản ánh đặc điểm của nền kinh tế định hướng mở cửa của Hồng Kông. Chính sách tỷ giá hối đoái cố định được đưa ra với mong muốn như một cách để kiểm soát siêu lạm phát. 1 Hong Kong là nền kinh tế tự do nhất thế giới trong 24 năm liên tiếp.vn/Ban-in/Quoc-te/891103/hong-kong-la-nen-kinh-te-tu-do-nhat-the-gioi-trong-24- nam-lien-tiep Đồng đô la Hồng Kông được thả nổi trong 9 năm từ 1974 – 1983. Trong giai đoạn đầu, nền kinh tế đã phục hồi rất nhanh sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ, với mức tăng trưởng ấn tượng (trên 10%) với tỷ lệ lạm phát vừa phải (4% - 6%) trong năm những 1976 -1978.
Tuy nhiên, những dấu hiệu của việc tăng trưởng nóng xuất hiện ở cuối những năm 1970 và được thúc đẩy bởi các dự án xây dựng công cộng và thị trường bất động sản bùng nổ.