Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bình đẳng giới là mục tiêu phát triển quan trọng nhằm xây dựng môi trường sống lành mạnh, giải phóng sức lao động của phụ nữ, bảo đảm quyền con người và tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật như Hiến pháp, Luật Hôn nhân và Gia đình, và đặc biệt là Điều 18 Luật Bình đẳng giới đã quy định rõ: vợ chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân gia đình; các thành viên nam nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.

Tuy nhiên, trên thực tế tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, tư tưởng "trọng nam khinh nữ" cùng những phong tục tập quán truyền thống vẫn còn tồn tại. Nam giới thường được mặc định là trụ cột gia đình, nắm quyền quyết định các vấn đề lớn và đại diện gia đình tham gia các hoạt động cộng đồng. Ngược lại, phụ nữ phải gánh vác phần lớn các công việc nội trợ, chăm sóc gia đình (hoạt động tái sản xuất), dẫn đến việc thiếu thời gian nghỉ ngơi, hạn chế cơ hội học tập nâng cao trình độ và tham gia công tác xã hội.

Tại xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên – một xã biên giới vùng cao có đông đảo đồng bào dân tộc Hà Nhì sinh sống – đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, trình độ dân trí còn hạn chế và việc tiếp cận thông tin về bình đẳng giới gặp nhiều rào cản. Tình hình phân công lao động và quyền ra quyết định trong các hộ gia đình còn bộc lộ nhiều điểm bất bình đẳng. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lỳ Na Xó (chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2020) được thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn trên.

Khóa luận xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về bình đẳng giới.
  2. Đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
  3. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại địa bàn nghiên cứu.
  4. Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường và thực hiện bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nam giới và nữ giới trong các hộ gia đình dân tộc Hà Nhì; sự tham gia và vai trò của hai giới trong 3 nhóm hoạt động: hoạt động sản xuất, hoạt động tái sản xuất và hoạt động cộng đồng.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại 3 bản (Đoàn Kết, Nậm Khum, Húi To) thuộc xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 1/2020 đến tháng 5/2020. Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2017 – 2019; số liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp trong năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Đề tài sử dụng khung lý thuyết xã hội học nông thôn và giới trong phát triển, dựa trên các khái niệm và văn bản pháp lý chính:

  • Giới tính và Giới: Giới tính chỉ sự khác biệt sinh học tự nhiên giữa nam và nữ (theo Luật Bình đẳng giới, Lê Thị Chiêu Nghi, Lê Ngọc Hùng & Nguyễn Thị Mỹ Lộc). Giới là thuật ngữ xã hội học chỉ vai trò, trách nhiệm, vị thế và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ trong một bối cảnh văn hóa - lịch sử cụ thể (theo Nông Quốc Bình, Trần Thị Vân Anh & Lê Ngọc Hùng).
  • Bình đẳng giới: Dẫn chiếu theo Công ước CEDAW và Luật Bình đẳng giới Việt Nam năm 2006, xác định bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực cho sự phát triển của cộng đồng, gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả phát triển.
  • Khung 3 vai trò giới: Phân tích hoạt động của nam và nữ qua 3 vai trò: Vai trò sản xuất (tạo ra sản phẩm, dịch vụ, thu nhập); Vai trò tái sản xuất (sinh con, nuôi dưỡng, chăm sóc gia đình, nội trợ – không tạo ra thu nhập trực tiếp nhưng duy trì lực lượng lao động); Vai trò cộng đồng (tham gia hội họp, nghi lễ, dịch vụ xã hội, hỗ trợ thiên tai).
  • Hộ gia đình: Theo định nghĩa của Bộ luật Dân sự năm 2005 về chủ thể kinh tế chung trong nông - lâm nghiệp có tài sản chung và cùng đóng góp công sức.
  • Đặc trưng văn hóa dân tộc Hà Nhì: Nghiên cứu tổng quan về dân tộc tộc người Hà Nhì (ngôn ngữ thuộc nhóm Lolo, nhánh Di/Yi, ngữ tộc Tạng - Miến, ngữ hệ Hán - Tạng; dân số cả nước khoảng 17.000 người, riêng Điện Biên có hơn 4.500 người cư trú tập trung tại Mường Nhé); các phong tục như tết Hồ Sự Chà (tổ chức vào tháng 12 dương lịch, có bánh dầy, bánh trôi cha lê, tục bói gan và mật lợn), lễ cúng bản Gạ Ma Thú (tháng 2-3 âm lịch) và nghệ thuật dệt may trang phục truyền thống đính hạt cứ khọ.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Khóa luận áp dụng phương pháp nghiên cứu khảo sát xã hội học kết hợp phân tích thống kê kinh tế nông thôn:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo tổng hợp kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê đất đai, sản xuất nông - lâm nghiệp, y tế, giáo dục giai đoạn 2017 – 2019 từ Ủy ban nhân dân xã Chung Chải.
  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi bán cấu trúc đối với các chủ hộ và thành viên gia đình dân tộc Hà Nhì.
  • Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng công thức Slovin (1960) với độ tin cậy 90% (mức sai số cho phép $e = 10%$): $$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$ Tổng số mẫu điều tra được xác định là 81 hộ gia đình người Hà Nhì, phân bổ đều tại 3 điểm bản đại diện:
    • Bản Đoàn Kết: 27 hộ
    • Bản Nậm Khum: 27 hộ
    • Bản Húi To: 27 hộ
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Số liệu sau điều tra được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel. Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tổ thống kê và phương pháp so sánh tương đối/tuyệt đối để đánh giá tỷ lệ tham gia, sự khác biệt giữa nam và nữ trong từng nhóm công việc và quyền quyết định.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của vấn đề bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc; xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể; làm rõ ý nghĩa khoa học trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn đối với công tác hoạch định chính sách nâng cao vị thế phụ nữ dân tộc Hà Nhì tại địa bàn nghiên cứu.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận về giới tính, giới, bình đẳng giới, hộ gia đình và văn hóa tộc người Hà Nhì. Tổng quan các yếu tố ảnh hưởng gồm yếu tố chủ quan (tâm lý tự ti, gánh nặng việc nhà, nhận thức của phụ nữ) và khách quan (tập quán xã hội, trình độ học vấn, sức khỏe, khả năng tiếp cận thông tin). Về mặt thực tiễn, tác giả tổng hợp kinh nghiệm thực hiện bình đẳng giới tại Thái Lan (luật bảo vệ quyền phụ nữ, cơ chế Ủy ban Nhân quyền), Singapore (tỷ lệ việc làm của lao động nữ đạt 76%), các nghiên cứu tại vùng miền núi phía Bắc và huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho xã Chung Chải.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung phần này xác định rõ địa bàn nghiên cứu tại xã Chung Chải; quy trình chọn mẫu điều tra 81 hộ thuộc 3 bản (Đoàn Kết, Nậm Khum, Húi To); hệ thống hóa các nhóm chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: nhóm chỉ tiêu điều kiện sản xuất của hộ (nhân khẩu, lao động, tư liệu sản xuất, thu nhập) và nhóm chỉ tiêu biểu hiện sự phân công lao động, quyền ra quyết định giữa nam và nữ trong sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp, tái sản xuất và đời sống cộng đồng.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện các kết quả khảo sát thực địa:

1. Đặc điểm địa bàn xã Chung Chải

  • Tự nhiên và đất đai: Tổng diện tích tự nhiên của xã là 21.021,40 ha; trong đó năm 2019 đất nông nghiệp chiếm 96,60% (20.306,76 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 2,50% (526,09 ha) và đất chưa sử dụng chiếm 0,90% (188,56 ha). Địa hình hiểm trở gồm núi cao trên 1000m, núi trung bình 700–900m và dải đồng bằng hẹp ven suối Nậm Ma, Nậm Khum. Khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng cao, lượng mưa trung bình 2439 mm/năm (78% lượng mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng 11).
  • Kinh tế - xã hội: Năm 2019, cây lương thực chính gồm lúa nương (358 ha, sản lượng 573 tấn), lúa mùa (95 ha, sản lượng 522,5 tấn), ngô (160 ha, sản lượng 272 tấn), lúa chiêm xuân (50 ha) và sắn (25 ha). Chăn nuôi có 365 con dê, 7.215 con gia cầm (đàn lợn và trâu bò giảm do dịch tả lợn châu Phi và rét đậm rét hại). Toàn xã có 1.157 nhân khẩu thuộc 6 dân tộc (Hà Nhì, Hmông, Thái, Kinh, Sila, Mường) tại 15 bản, tỷ lệ hộ nghèo lên tới 78,57%.

2. Thông tin chung về 81 hộ điều tra

  • Chủ hộ: Nam giới làm chủ hộ chiếm 77,8%, nữ giới làm chủ hộ chiếm 22,2% (chủ yếu là hộ đơn thân, góa chồng hoặc chồng đi làm xa).
  • Phân loại hộ và kinh tế: Hộ thuần nông nghiệp chiếm 79,0%, hộ phi nông nghiệp chiếm 13,6%, hộ kiêm chiếm 7,4%. Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 27,2%, cận nghèo chiếm 28,4% (tổng nghèo và cận nghèo là 55,6%), hộ trung bình chiếm 27,1%, hộ khá/giàu chiếm 17,3%.
  • Trình độ học vấn của chủ hộ: Mù chữ chiếm 8,6%, Tiểu học chiếm 23,5%, THCS chiếm 32,1%, THPT chiếm 35,8%, không có trình độ Trung cấp, Cao đẳng hay Đại học.
  • Quy mô nhân khẩu và lao động: Bình quân 4,34 khẩu/hộ và 2,64 lao động/hộ.
  • Tài sản sinh hoạt và tư liệu sản xuất: 51,9% hộ ở nhà sàn/gỗ/ván; 30,8% ở nhà đất; 17,3% ở nhà xây. Tỷ lệ có tivi đạt 98,8%, xe máy đạt 97,5%, xe đạp đạt 75,2%, tủ lạnh đạt 50,6%, bếp ga đạt 27,1%, đài radio đạt 18,5%. Về máy móc nông nghiệp, 48,1% hộ có máy cày bừa, 35,8% có máy tuốt lúa, 20,9% có máy xay xát và 18,5% có máy bơm nước.
  • Cơ cấu nguồn thu nhập của hộ: Trồng trọt chiếm 34,5%, chăn nuôi chiếm 26,0%, làm thuê chiếm 14,8%, lâm nghiệp chiếm 13,6%, thủy sản chiếm 6,2%, hoạt động thương mại dịch vụ chiếm 4,9%.

3. Thực trạng phân công lao động theo giới

  • Trong sản xuất nông nghiệp: Nam giới chiếm ưu thế ở các khâu nặng nhọc hoặc đòi hỏi kỹ thuật như cày bừa (59,3%), phun thuốc trừ sâu (61,7%), chọn giống cây trồng (56,8%), làm chuồng trại (38,3%). Nữ giới thực hiện chính các công việc cần sự tỉ mỉ như bảo quản sau thu hoạch (39,5%), thu hoạch (35,8%), gieo cấy (33,3%), chăm sóc làm cỏ (33,1%) và chăm sóc gia súc/gia cầm (34,6%). Xu hướng cả hai vợ chồng cùng làm thể hiện rõ nhất ở khâu bán nông sản (53,1%), chọn giống vật nuôi (44,4%), gieo cấy (38,3%) và thu hoạch (37,0%).
  • Trong sản xuất phi nông nghiệp: Nữ giới đảm nhận chính nghề dệt vải, may thêu trang phục truyền thống (55,6%, trong khi nam giới chỉ chiếm 7,4%) và bán hàng/kinh doanh nhỏ (45,7%). Ngược lại, nam giới chiếm ưu thế tuyệt đối trong nghề rèn mộc (59,3%) và sản xuất đồ gỗ (66,7%).
  • Trong hoạt động tái sản xuất: Công việc nội trợ trong gia đình do nữ giới đảm nhận chính chiếm tỷ lệ áp đảo là 64,2% (nam giới chỉ chiếm 14,8%, cả hai cùng làm chiếm 21,0%). Công việc chăm sóc thành viên gia đình do nữ đảm nhận chiếm 39,5% (nam giới 27,2%, cả hai 33,3%). Nam giới giữ vai trò chính trong việc xây dựng, sửa chữa nhà cửa (56,8%). Việc dạy dỗ con cái và sử dụng biện pháp tránh thai có sự tham gia tương đối đồng đều giữa hai giới (nam dạy con 39,5%, nữ 34,6%; nữ dùng biện pháp tránh thai 39,5%, nam 38,3%).

4. Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp đề xuất

Tác giả phân tích 4 nhóm yếu tố cản trở bình đẳng giới: quan niệm định kiến xã hội; tâm lý tự ti an phận của phụ nữ; hạn chế về sức khỏe và phương tiện tiếp cận thông tin; trình độ học vấn thấp (8,6% mù chữ). Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp: đẩy lùi định kiến giới thông qua các phong trào gia đình văn hóa; khuyến khích phụ nữ tự tin học tập và tham gia đoàn thể; nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và truyền thông cơ sở; mở rộng các lớp tập huấn khuyến nông, xóa mù chữ và nâng cao nhận thức pháp luật cho đồng bào.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với chính quyền địa phương (tăng cường cán bộ nữ, hỗ trợ vay vốn, tuyên truyền pháp luật) và đối với bản thân các cặp vợ chồng người Hà Nhì (chủ động chia sẻ công việc nhà, cùng tham gia quyết định kinh tế gia đình).

Kết quả và đóng góp

Bảng tổng hợp số liệu phân công lao động trong các hoạt động của hộ

Nhóm hoạt động Công việc cụ thể Nữ thực hiện (%) Nam thực hiện (%) Cả hai cùng làm (%) Thuê ngoài (%)
Trồng trọt Cày bừa 3,7 59,3 28,4 8,6
Chọn giống 11,1 56,8 27,2 4,9
Mua vật tư nông nghiệp 24,7 33,3 32,1 9,9
Gieo trồng, cấy 33,3 14,8 38,3 13,6
Chăm sóc (bón phân, làm cỏ) 33,1 24,7 32,1 11,1
Phun thuốc trừ sâu 9,9 61,7 22,2 6,2
Thu hoạch 35,8 19,8 37,0 7,4
Bảo quản sau thu hoạch 39,5 18,5 34,6 7,4
Bán nông sản 19,8 22,2 53,1 4,9
Chăn nuôi Chọn giống vật nuôi 29,6 19,8 44,4 6,2
Mua vật tư chăn nuôi 23,5 39,5 29,6 7,4
Làm chuồng trại 22,2 38,3 25,9 13,6
Chăm sóc gia súc, gia cầm 34,6 22,2 28,4 14,8
Bán sản phẩm chăn nuôi 23,5 37,0 33,3 6,2
Phi nông nghiệp Dệt vải, may thêu 55,6 7,4 14,8 —
Rèn mộc — 59,3 — —
Bán hàng, kinh doanh 45,7 23,5 27,1 3,7
Sản xuất đồ gỗ 7,4 66,7 11,1 14,8
Tái sản xuất Nội trợ gia đình 64,2 14,8 21,0 —
Chăm sóc thành viên 39,5 27,2 33,3 —
Dạy dỗ con cái 34,6 39,5 25,9 —
Xây dựng, sửa chữa nhà 21,0 56,8 22,2 —
Thực hiện biện pháp tránh thai 39,5 38,3 22,2 —

Kết quả chính và đóng góp của đề tài

  • Cung cấp dữ liệu thực chứng: Đề tài phản ánh bức tranh phân công lao động tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số biên giới. Kết quả chỉ ra rằng sự bình đẳng đã bắt đầu xuất hiện rõ nét trong các khâu kinh tế tạo thu nhập (bán nông sản có 53,1% cả hai cùng làm; chọn giống chăn nuôi có 44,4% cả hai cùng làm).
  • Chỉ ra các điểm nghẽn giới: Bất bình đẳng giới vẫn tồn tại sâu sắc trong hoạt động tái sản xuất khi công việc nội trợ vẫn bị gán cho phụ nữ (nữ gánh vác 64,2%, nam chỉ chiếm 14,8%). Tỷ lệ nam giới đứng tên chủ hộ chiếm đa số (77,8%), gắn liền với quan niệm xã hội truyền thống và sự tự ti của phụ nữ.
  • Đóng góp giải pháp: Đưa ra hệ thống giải pháp gắn liền với đặc thù văn hóa tộc người Hà Nhì (kết hợp bảo tồn nghề dệt thủ công với nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, xóa mù chữ và lồng ghép tuyên truyền bình đẳng giới trong các sinh hoạt bản làng).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát sơ cấp tập trung tại 81 hộ gia đình thuộc 3 bản (Đoàn Kết, Nậm Khum, Húi To) của xã Chung Chải nên tính khái quát cho toàn bộ cộng đồng dân tộc Hà Nhì ở các huyện, tỉnh khác còn ở mức nhất định.
    • Phương pháp phân tích số liệu chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả, phân tổ tỷ lệ và so sánh cơ bản trên phần mềm Excel, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hồi quy đa biến để kiểm định định lượng mức độ tác động của các yếu tố (thu nhập, học vấn, tuổi tác) đến quyền ra quyết định của phụ nữ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn nghiên cứu sang các xã khác có đông người Hà Nhì như Sín Thầu, Sen Thượng, Leng Su Sìn; thực hiện các nghiên cứu so sánh liên tộc người (giữa dân tộc Hà Nhì với người Hmông, Thái, Sila) về bình đẳng giới trong phát triển nông thôn.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Phát triển nông thôn, Xã hội học, Nhân học, Công tác xã hội và Kinh tế nông nghiệp khi thực hiện các khóa luận, đề tài nghiên cứu về giới, lao động nông thôn và cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi.
  • Cán bộ quản lý và hoạch định chính sách: Cán bộ Hội Phụ nữ, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc và chính quyền các cấp tại huyện Mường Nhé và tỉnh Điện Biên trong việc xây dựng kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ, triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng biểu số liệu chi tiết về phân công lao động theo từng công việc nông - lâm - phi nông nghiệp và các tư liệu mô tả thực tế về phong tục, tập quán, lễ hội (Hồ Sự Chà, Gạ Ma Thú) của dân tộc Hà Nhì.

Câu hỏi thường gặp

1. Cỡ mẫu khảo sát trong khóa luận được xác định như thế nào và điều tra ở những bản nào?

Khóa luận sử dụng công thức chọn mẫu Slovin (1960) với mức sai số cho phép $e = 10%$ và độ tin cậy 90%, tính ra quy mô mẫu là 81 hộ gia đình dân tộc Hà Nhì. Số mẫu được chia đều cho 3 bản thuộc xã Chung Chải: bản Đoàn Kết (27 hộ), bản Nậm Khum (27 hộ) và bản Húi To (27 hộ).

2. Thực trạng phân công lao động trong hoạt động nội trợ tại các hộ khảo sát ra sao?

Công việc nội trợ gia đình vẫn chủ yếu do phụ nữ đảm nhận chính, chiếm tỷ lệ 64,2%. Tỷ lệ nam giới làm chính công việc này chỉ đạt 14,8% (thường chỉ thực hiện khi vợ bận hoặc vắng nhà) và tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng chia sẻ công việc nội trợ là 21,0%.

3. Cơ cấu kinh tế và trình độ học vấn của các chủ hộ khảo sát được ghi nhận như thế nào?

Trong 81 hộ điều tra:

  • Về phân loại kinh tế: Hộ nghèo chiếm 27,2%, hộ cận nghèo chiếm 28,4% (tổng nghèo và cận nghèo là 55,6%), hộ trung bình chiếm 27,1%, hộ khá/giàu chiếm 17,3%.
  • Về học vấn chủ hộ: 8,6% mù chữ, 23,5% có trình độ Tiểu học, 32,1% trình độ THCS, 35,8% trình độ THPT và không có chủ hộ nào đạt trình độ Cao đẳng hay Đại học.

4. Những nét văn hóa truyền thống đặc trưng nào của người Hà Nhì được tác giả mô tả trong khóa luận?

Khóa luận mô tả chi tiết ngôn ngữ thuộc nhóm Lolo (ngữ tộc Tạng - Miến); nhà ở truyền thống bằng gỗ, ván; tục cưới hai lần; tết cổ truyền Hồ Sự Chà vào tháng 12 dương lịch (với bánh dầy, bánh trôi cha lê, tục bói gan và mật lợn); lễ cúng bản Gạ Ma Thú vào tháng 2-3 âm lịch; và nghệ thuật làm trang phục thủ công truyền thống của phụ nữ kéo dài từ 5-6 tháng, có đính các hạt nhôm lồi (cứ khọ) và hoa văn cầu kỳ.

5. Trong sản xuất nông nghiệp, những khâu nào có sự tham gia phối hợp cao nhất giữa cả hai vợ chồng?

Khâu có tỷ lệ cả hai vợ chồng cùng tham gia cao nhất là bán nông sản (53,1%), tiếp đến là chọn giống trong chăn nuôi (44,4%), gieo trồng/cấy lúa (38,3%), thu hoạch mùa màng (37,0%) và bảo quản nông sản sau thu hoạch (34,6%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lỳ Na Xó đã phản ánh toàn diện thực trạng bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã Chung Chải, huyện Mường Nhé thông qua nguồn số liệu sơ cấp từ 81 hộ điều tra. Nghiên cứu chỉ ra rằng dù đã có sự bình đẳng và phối hợp tích cực của cả hai giới trong nhiều khâu sản xuất nông nghiệp, bất bình đẳng giới vẫn tồn tại rõ rệt trong công việc nội trợ, nghề thủ công truyền thống và tỷ lệ nắm giữ vị trí chủ hộ. Các nhóm giải pháp do tác giả đề xuất có tính khả thi, gắn liền với việc nâng cao dân trí, phát triển kinh tế nông hộ và thay đổi nhận thức cộng đồng vùng cao biên giới.