MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Bình đẳng giới là một trong những vấn đề được quan tâm trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Bình đẳng giới tạo ra một môi trường lành mạnh để con người, đặc biệt là trẻ em được đối xử bình đẳng, được giáo dục về quyền bình đẳng, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên gia đình, góp phần tăng trưởng kinh tế đất nước; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của các thành viên trong gia đình giải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, giải phóng phụ nữ và tiền đề để xây dựng thể chế gia đình bền vững. Đảng và nhà nước Việt Nam luôn quan tâm thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới. Nhiều văn bản quan trọng đã ra đời và quy định cụ thể về nội dung này như: Hiến pháp, Luật hôn nhân gia đình, Luật bình đẳng giới.
Như Điều 18 “Luật bình đẳng giới” đã quy định: Vợ chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình,. các thành viên nam nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình.[11] Tuy nhiên, trên thực tế đã cho thấy: trong gia đình, nam giới vẫn được coi là trụ cột, có quyền quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng. Còn các công việc nội trợ, chăm sóc các thành viên trong gia đình vẫn được coi là “thiên chức” của phụ nữ. Phụ nữ phải gánh trách nhiệm chính trong hoạt động tái sản xuất của gia đình, điều này đã hạn chế cơ hội được tiếp cận của phụ nữ, ảnh hưởng tới việc học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, và thời gian nghỉ ngơi của phụ nữ.
Đặc biệt trong nhiều gia đình người dân tộc thiểu số nói chung thì tư tưởng “trọng nam khinh nữ” đã ăn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người dân dẫn đến tỷ lệ con gái ít được đi học, ít được va chạm nên phụ nữ còn rụt rè, thiếu m 2 tự tin khi tiếp xúc với cộng đồng, họ chỉ làm việc nhà mà nhiều khi không được tham gia vào công tác xã hội. Đối với đồng bào dân tộc Hà Nhì, xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên với hoạt động sản xuất chủ yếu là làm nông nghiệp, trình độ dân trí còn hạn chế, ít cơ hội tiếp cận những nguồn thông tin mới trong đó có những thông tin về bình đẳng giới. Trong một số hộ gia đình, tình hình phân công lao động cũng như quyền ra quyết định của hai giới chưa thực sự bình đẳng. Xuất phát từ lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên”.
Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao bình đẳng giới cho cộng đồng dân tộc Hà Nhì tại địa bàn nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về bình đẳng giới. - Đánh giá được thực trạng bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì tại xã Chung Chải. - Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm thực hiện bình đẳng giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. - Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân sinh viên.
- Là tài liệu tham khảo cho nhà trường, cho khoa và các sinh viên khóa tiếp theo. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài giúp hệ thống lại một cách khoa học các kiến thức đã học, vận dụng linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống. Đồng thời giúp tìm hiểu nâng cao kiến thức chuyên môn. Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp nhìn nhận đúng hơn về vai trò người phụ nữ nói chung và gia đình dân tộc Hà Nhì nói riêng trong phát triển kinh tế xã hội.
Từ đó nâng cao nhận thức của chính người phụ nữ và nam giới trong gia đình dân tộc Hà Nhì, góp phần phát huy hơn nữa vai trò của họ trong phát triển kinh tế của gia đình mình nói riêng và phát triển chung của địa phương. m 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm cơ bản.1 Khái niệm giới tính, giới * Khái niệm giới tính Luật bình đẳng giới chỉ ra rằng: “Giới tính là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bên ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính như: phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ.
Về mặt sinh học, nam và nữ không giống nhau trên nhiều phương diện nhưng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản”.[13] Một số khái niệm khác cho rằng: “Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái”. [16] Theo Lê Thị Chiêu Nghi cho rằng: “Giới tính là sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới về mặt y – sinh học”[9] Còn theo Lê Ngọc Hùng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội”. [7] * Khái niệm giới Giới là gì? Có rất nhiều quan điểm về giới được các tác giả chỉ ra như sau: Theo Nông Quốc Bình (2008): “Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể”.[3] Còn theo Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), giới được hiểu là: Giới chỉ mối quan hệ xã hội và tương quan giữa địa vị xã hội của nữ và nam trong bối cảnh xã hội cụ thể.
Khi nói đến giới, là nói đến các điều kiện và yếu m 5 tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong mọi hoàn cảnh cụ thể.2 Khái niệm bình đẳng giới Theo công ước CEADAW: “Bình đẳng giới là tình trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, làm việc….) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí hư nhau, hộ có cơ hội bình đẳng để tiếp vận, sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiếm cho sự phát triển của mỗi quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó”. [4] Ở Việt Nam, khái niệm bình đẳng giới được định nghĩa: “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phat triển đó”.[12] Một số khái nệm khác chi ra. Bình đẳng giới là biểu hiện sự đối xử như nhau của xã hội đối với nam và nữ; là trạng thái (hay tình hình) xã hội trong đó phụ nữ và nam giới có vị trí như nhau, có cơ hội như nhau để phát triển đầy đủ tiềm năng của mình, sử dụng nó trong phát triển của xã hội và được hưởng lợi từ kết quả của sự phát triển đó.[13] Một số yếu tố cấu thành bình đẳng giới : - Quan tâm đến sự khác biệt về giới tính giữa nam và nữ cũng như những bất hợp lý về giới có thể tồn tại trên thực tế. - Chú trọng đến tác động của phong tục, tập quán như là những nguyên nhân sâu xa và cơ bản của tình trạng phân biệt đối xử.
- Các chính sách, pháp luật không chỉ quan tâm đến những quy định chung mà còn quan tâm đặc biệt đến các quy định thể hiện được hai khía cạnh: phân biệt hợp lý yếu tố ưu tiên, bình đẳng hoặc vừa ưu tiên, vừa bình đẳng cho một nhóm cụ thể hoặc là nam hoặc là nữ để đạt được bình đẳng giới trên thực tế.3 Khái niệm hộ gia đình Theo quy định của Bộ luật dân sự (2005): “Hộ gia đình” mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”. [11] Hộ gia đình có những đặc điểm cơ bản như sau: - Hộ gia đình phải có từ hai thành viên trở lên; - Khái niệm hộ gia đình thường xuất hiện ở các lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp và nông thôn; - Hộ gia đình phải có tài sản chung và thông thường tài sản chung này là tài sản có giá trị lớn và là tư liệu sản xuất của hộ gia đình.4 Khái niệm dân tộc Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt có thể đề cập đến các nghĩa sau: + Dân tộc (cộng đồng): theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, nguồn gốc, lịch sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc. Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân. + Sắc tộc: chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ.[8] Một số định nghĩa khác về dân tộc: Dân tộc có thể chỉ một cộng đồng người chia sẻ một ngôn ngữ, văn hóa, sắc tộc, nguồn gốc, hoặc lịch sử.
Tuy nhiên, nó cũng có thể chỉ những người có chung lãnh thổ và chính quyền (ví dụ những người trong một quốc gia có chủ quyền) không kể nhóm sắc tộc. Trong trường hợp gắn liền với một quốc gia dân tộc, dân tộc còn được gọi là quốc dân. "Dân tộc" mang nhiều nghĩa và phạm vi nghĩa của thuật ngữ thay đổi theo thời gian. Đặc trưng của dân tộc Hà Nhì Dân tộc Hà Nhì là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở vùng núi cao phía Tây Bắc, đồng bào dân tộc Hà Nhì có nền văn hoá độc đáo, mang đậm bản sắc của dân tộc mình.
Hiện nay dân tộc người Hà Nhì có khoảng 17.000 người sinh sống ở các tỉnh vùng cao Tây Bắc, tập trung số lượng đông hơn cả là người Hà Nhì ở xã Y Tý (huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai).