Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỂU HIỆN TRÌ HOÃN TRONG HỌC TẬP 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề biểu hiện trì hoãn ở nước ngoài Vì để đạt được mục tiêu, mọi người phải có đủ động lực và khả năng để thực hiện các hành động cần thiết. Tuy nhiên, không phải lúc nào con người cũng có thể hoàn thành công việc hay nhiệm vụ một cách suôn sẻ và trôi chảy.
Khi bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như thiếu động lực, mục tiêu đề ra vượt quá khả năng hay việc quản lý thời gian của bản thân không tốt,… đều có thể dẫn đến sự trì hoãn của con người. Trì hoãn xuất hiện sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực như chậm tiến độ so với kế hoạch đã đề ra, con người dễ rơi vào trạng thái căng thẳng trong quá trình làm việc khi thời hạn tới gần, thậm chí không thể gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf hoàn thành công việc đúng hạn. Vì vậy, biểu hiện trì hoãn luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Theo một số quan điểm cho rằng biểu hiện trì hoãn có liên quan mật thiết trong các nền văn hóa được công nghiệp hóa.
Một nền văn hóa đề cao việc tuân thủ lịch trình, kế hoạch của cá nhân hoặc doanh nghiệp. Philip DeSimone đã chỉ ra rằng sự trì hoãn trở thành một khái niệm nổi bật hơn khi xã hội trở nên công nghiệp hóa hơn. Mặc dù một số nhà nghiên cứu đã lập luận rằng sự trì hoãn là một hiện tượng hiện đại, nhưng những từ ngữ và khái niệm tương tự liên quan đến sự trì hoãn đã tồn tại trong suốt lịch sử. Người Ai Cập cổ đại đã sử dụng những từ liên quan đến sự trì hoãn để mô tả cả biểu hiện hữu ích và biểu hiện có hại.
Những biểu hiện hữu ích chính là tránh những công việc không cần thiết, biết sắp xếp thời gian cho những hoạt động phù hợp còn những biểu hiện có hại dùng để miêu tả sự lười biếng, ngăn cản khả năng hoàn thành các mục tiêu quan trọng. Từ điển tiếng Anh Oxford nói rằng từ trì hoãn thường fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 8 được sử dụng vào đầu thế kỷ 17, để mô tả các tình huống trong đó mọi người chọn cách chủ động hoãn lại các hành vi của họ. Sự trì hoãn bắt đầu được sử dụng như một phương tiện chỉ ra những hậu quả tiêu cực của việc phung phí thời gian trước thời hạn hoàn thành nhiệm vụ hoặc mục tiêu nào đó vào giữa thế kỷ 18, trùng với sự xuất hiện của nền Cách mạng Công nghiệp. Do đó, xu hướng biểu hiện trì hoãn đã tồn tại trong rất nhiều năm nhưng được quan tâm hơn cả khi xã hội đặt ưu tiên cao cho sự tuân thủ lịch trình hay kế hoạch đã được đề ra.
Một loạt các lĩnh vực khác lặp lại chủ đề này và chỉ ra rằng biểu hiện trì hoãn là mối nguy hiểm. Về kinh tế, Akerlof (1991), Donoghue và Rabin (1999) coi việc chần chừ, chậm trễ trong việc tiết kiệm hưu trí có thể xem là một hình thức của sự trì hoãn, đó là việc mà nhiều người bắt đầu chuẩn bị cho những năm cuối đời của họ quá muộn. Trong lĩnh vực chính trị, sự trì hoãn đã được sử dụng để mô tả cả các quyết định của Tổng thống (Farnham, 1997; Kegley, gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf 1989) và các hoạt động ngân hàng của các quốc gia (Hà Lan, 2001), trong đó khi các quyết định quan trọng bị trì hoãn thì có kết quả thảm hại. Một số người cứu đã chỉ ra rằng người có tính trì hoãn là người có mức độ tận tâm thấp (Mann, 2016), động lực bên trong thấp (Burnam, Komarraju, Hamel, & Nadler, 2014), thiếu khả năng tự kiểm soát (Schouwenburg, Lay, Pychyl, & Ferrari, 2004).
Bên cạnh đó, mức độ trì hoãn cũng chịu ảnh hưởng của đặc điểm công việc như tính hấp dẫn (Ackerman & Gross, 2005), mức độ khó (Steel, 2007), tính hợp lý (N. Milgram, Dangour, & Ravi, 1992). Các nghiên cứu trên được theo cách tiếp cận môi trường hoặc tình huống trong nghiên cứu nguyên nhân hay tiền đề của trì hoãn (Nguyễn Ngọc Quang, Lã Thị Thủy Tiên, Phan Thị Mai, Ninh Thùy Dung, 2017). Giáo dục ở bậc đại học là cái nôi nuôi dưỡng những thế hệ thừa kế và phát triển nghề nghiệp trong tương lai nên việc nghiên cứu trong lĩnh vực này khá được chú trọng với hàng loạt bài nghiên cứu về hoạt động học tập.
Các nhà fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 9 nghiên cứu đặc biệt chú trọng đến những nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với hoạt động học tập cũng như dẫn đến thành tích học tập kém ở sinh viên. Và một trong những nguyên nhân đó là sự trì hoãn trong học tập. Do đó, có rất nhiều bài nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân, tác hại và biện pháp khắc phục trì hoãn trong học tập của sinh viên đã được thực hiện. Hướng nghiên cứu thứ nhất: Thực trạng biểu hiện trì hoãn trong học tập.
Trong một nghiên cứu về sự trì hoãn học tập từ Đại học Vermont, xuất bản năm 1984, kết quả chỉ ra 46% đối tượng cho rằng họ "luôn luôn" hoặc "gần như luôn luôn" trì hoãn việc viết bài, khoảng 30% báo cáo việc chần chừ học bài và làm bài tập hàng tuần ( lần lượt là 28% và 30%). Gần một phần tư các đối tượng báo cáo rằng sự chần chừ là một vấn đề đối với họ khi liên quan đến các nhiệm vụ tương tự. Tuy nhiên, có đến 65% chỉ ra rằng họ muốn giảm sự trì hoãn khi viết bài,và khoảng 62% chỉ ra điều tương tự khi học bài kiểm tra và gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf 55% khi làm bài tập hàng tuần. Trong một nghiên cứu được thực hiện trên các sinh viên đại học "The Procrastination of Everyday Life" (Milgram, Sroloff, & Rosenbaum, 1988), sự trì hoãn được chứng minh là lớn hơn ở với các nhiệm vụ mà sinh viên cảm thấy khó chịu hoặc bị áp đặt so với những nhiệm vụ mà sinh viên tin rằng họ thiếu các kỹ năng cần thiết để hoàn thành.
Nghiên cứu "The Personal, Career, and Learning Skills Needs of College Students" (Gallagher, Golin, & Kelleher, 1992) cho thấy, khoảng 75% tự coi mình là người trì hoãn và 52% sinh viên được khảo sát chỉ ra rằng họ cần sự giúp đỡ về sự trì hoãn từ mức trung bình đến mức cao. Nghiên cứu của Muszynski và Akamatsu từ 1991 về học viên tâm lý học lâm sàng cấp tiến sĩ, đã đưa ra kết luận rằng các yếu tố nhận thức và tình cảm liên quan đến sự trì hoãn có thể dẫn đến chậm trễ hoặc thậm chí thất bại trong việc hoàn thành luận án của họ. Trong một cuộc khảo sát năm 1997, giáo sư fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 10 Kathy Green, tiến sĩ giáo dục của Đại học Denver, đã phát hiện ra rằng sự trì hoãn là một trong những lý do hàng đầu khiến học viên tiến sĩ không hoàn thành luận án của họ (New Directions for Higher Education Vol. Sự trì hoãn của sinh viên tốt nghiệp trong hoạt động đọc sách ở mức độ lớn hơn so với sinh viên đại học mặc dù sinh viên tốt nghiệp có khả năng đọc sách gần như gấp 3,5 lần so với sinh viên đại học được minh họa bởi nghiên cứu của tác giả Onwuegbuzie (2004).
Tuy nhiên, Onwuegbuzie lưu ý rằng có đến 65% đến 75% sinh viên tốt nghiệp trong nghiên cứu của ông muốn giảm sự trì hoãn của họ đối với các nhiệm vụ này. Bên cạnh đó, sinh viên đại học nhận thấy rằng xu hướng chần chừ là một rào cản đối với thành công học tập của họ (Jiao, DaRos-Voseles, Collins, & Onwuegbuzie, January 2011). Một nghiên cứu khác cũng được thực hiện vào năm 2004 của tác giả Klingsieck “Procrastination”, chỉ ra 70% sinh viên đại học tự xếp mình là người gfsdsd sd sdsd dsd sd454 4545 4545xfdf def dtrrtrrtrt 454 454 545gd luan van do an khoa luan tot nghiep fdfd 454 dhfg fgfgf trì hoãn trong khi một nghiên cứu năm 1984 cho thấy chỉ có 50% sinh viên sẽ trì hoãn một cách thường xuyên và coi đó là một vấn đề lớn trong cuộc sống của họ. Một phân tích tổng hợp năm 2007 của nhà tâm lý học Đại học Calgary, Tiến sĩ Piers Steel báo cáo rằng 80% đến 95% sinh viên đại học trì hoãn, đặc biệt khi nói đến việc thực hiện khóa học của họ (New Directions for Higher Education Vol.
Hơn nữa, một số nghiên cứu phân tích tổng hợp cũng trong năm 2007 của Steel cho thấy, sự chần chừ có liên quan tiêu cực đến điểm trung bình chung, điểm thi cuối kỳ và điểm bài tập. Joseph Ferrari, tiến sĩ tâm lý học của Đại học DePaul nói rằng một số sinh viên thực sự có thể nghĩ rằng họ cảm thấy hồi hộp khi trì hoãn việc học và tin rằng họ sẽ làm việc tốt nhất dưới áp lực, mặc dù điều đó không được đưa ra trong dữ liệu thực nghiệm. "Các sinh viên dường như chỉ nhớ lại một fgf fg fgfg45 fg fsdf gr fgf gfg fgf rt d gdf gdfg dh dff gdf dfddfg 54545 f df ddf d dfdf df dfd fd dfd ddgdgdd dd d d fdfd 454 dhfg fgfgf 11 lần mà có lẽ phải đợi đến phút cuối cùng mới thực hiện và được đền đáp với điểm số tốt, nhưng họ quên mất chín lần khác khi điều đó không xảy ra", Ferrari nói. Do đâu mà tỉ lệ sinh viên có biểu hiện trì hoãn lại lớn như vậy? Câu trả lời này có lẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, tuy nhiên, tựu chung lại, có hai lí do chính gây ra hiện tượng này.
Nguyên nhân thứ nhất là kết quả học tập. Nhiều người nghĩ rằng việc trì hoãn là tác nhân ảnh hưởng tới kết quả học tập chứ không phải ngược lại, nhưng một vài nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả hai đối tượng trên đều có ảnh hưởng đến nhau (Knaus, 1998; Owens and Newbegin 1997).