Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA THỂ CHẾ YUSHIN 1. Tình hình thế giới và khu vực Đông Á cuối những năm 1960 – đầu những năm 1970 1. Thế giới chuyển từ xu thế đối đầu sang đối thoại Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, tình hình chính trị thế giới có nhiều biến động. Trật tự hai cực Yalta được hình thành, thay thế cục diện chiến tranh giữa phe Đồng minh và phe phát xít trước đây bằng cuộc đối đầu giữa hai khối chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, đứng đầu bởi hai siêu cường quốc Mỹ và Liên Xô.
Ngay từ năm 1947, cả hai tiến hành cuộc chạy đua vũ trang dai dẳng và hết sức tốn kém tiền bạc. Những năm 1960, cuộc đối đầu giữa hai siêu cường quốc leo thang đỉnh điểm, không những trong lĩnh vực quân sự mà còn sang các lĩnh vực khác trong đời sống, xã hội, khoa học kỹ thuật. Mỹ và Liên Xô đổ một số tiền khổng lồ cho cuộc chạy đua cạnh tranh hạt nhân và không gian làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, sản xuất của cả hai siêu cường quốc. Năm 1972, kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng đến nỗi Tổng thống Richard Nixon phải rút khỏi Hệ thống tiền tệ Bretton Woods2 nhằm cứu đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng.
Ở phía bên kia, Liên Xô cũng phải đối mặt với sự suy thoái kinh tế. Trước tình hình như thế, đến đầu những năm 1970, cả hai siêu cường quốc buộc phải cắt giảm các chi phí cho cuộc chạy đua quân sự và hàng không vũ trụ, tập trung khôi phục phát triển nền kinh tế. Đã đến lúc cuộc chạy đua vũ trang tốn kém nhường chỗ cho sự tìm kiếm đối thoại và hợp tác trên nguyên tắc “chung sống hòa bình”. Năm 1968, cách mạng ở miền Nam Việt Nam phát triển mạnh mẽ, làm tiêu tan mọi hy vọng của người Mỹ về một kết thúc thắng lợi bằng sức mạnh quân sự.
Vấn đề đặt ra, Mỹ giờ đây làm thế nào rút quân khỏi Việt Nam một cách danh dự và đảm bảo cho những cam kết của mình với những nước khác ở Đông Nam Á và vùng Châu Á – Thái Bình Dương không bị ảnh hưởng xấu. Chính quyền Tổng thống Mỹ Richard 2 Hệ thống Bretton (Bretton Woods System) được thiết lập năm 1944 bởi các quốc gia đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, tại Bretton Woods, New Hampshire. Các quốc gia tham dự hệ thống cam kết Ngân hàng Trung ương quốc gia của mình sẽ duy trì tỷ giá hối đoái cố định với đồng đôla Mỹ. 22 Nixon nhận ra thế và lực của Mỹ trên trường quốc tế giờ đây bị suy yếu đáng kể; một mặt, do bị sa lầy trong chiến tranh ở Việt Nam; mặt khác, do đối thủ chính của Mỹ là Liên Xô – quốc gia đã lợi dụng tình trạng sa lầy của Mỹ ở Đông Dương để phát triển lực lượng và tầm ảnh hưởng của mình; thêm nữa, các đồng minh Nhật Bản, Pháp, Đức luôn tìm cách lợi dụng thời cơ làm suy giảm ảnh hưởng của Mỹ.
Châu Á – Thái Bình Dương, nói chung, Đông Á, nói riêng; từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng là khu vực địa chính trị quan trọng đứng đầu của hai hệ thống siêu cường, giờ đây trở thành gánh nặng cho chính quyền Mỹ. Trong bối cảnh quyền lực suy giảm như vậy, Mỹ nhận thấy sự cần thiết thay đổi vai trò “sen đầm quốc tế” ở đây. Ngày 25 tháng 7 năm 1969, khi được một nhà báo hỏi: “Liệu nếu có một đồng minh nào của Mỹ ở châu Á rơi vào tình thế khó khăn giống như miền Nam Việt Nam thì Mỹ có chi viện giúp đỡ không?” Ngay lập tức Tổng thống Mỹ Richard Nixon trả lời: “Chúng tôi nhất định sẽ tránh những chính sách viện trợ quân sự trực tiếp như vậy, để không bị sa lầy một lần nữa như trong chiến tranh ở Việt Nam” (Lee Chun Geun, 2018, tr. Học thuyết Nixon3 (Nixon Doctrine) hay còn được gọi là học thuyết Guam (Guam Doctrine) đã ra đời trong khoảnh khắc như vậy.
Mục đích của Học thuyết Nixon ra đời nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi gánh nặng can thiệp quân sự trong các cuộc chiến tranh cục bộ, tốn kém và tập trung khôi phục sức mạnh nước Mỹ trong sự cạnh tranh quyền lực tư sản. Học thuyết Nixon có những nội dung chính: 1. Mỹ sẽ tránh can thiệp quân sự trực tiếp ở các quốc gia đồng minh giống như trường hợp chiến tranh ở Việt Nam; 2. Rút quân đội Mỹ ở nước ngoài theo từng giai đoạn; 3.
“Trả châu Á lại cho người châu Á”, tức là người châu Á sẽ tự mình chịu trách nhiệm về tình hình an ninh quân sự khu vực, ngoại trừ trường hợp có mối đe dọa an ninh hạt nhân từ các cường quốc. 3 Học thuyết Nixon là ý tưởng ngoại giao của Cố vấn an ninh quốc gia tổng thống Mỹ - Tiến sĩ Henry Alfred Kissinger. Ý thức hệ ngoại giao của Kissinger bắt nguồn từ “Ý tưởng Trung Âu” - tái cấu trúc trật tự các quốc gia ở châu Âu của Klemens von Metternich vào cuối những năm 1960. Đây là một ý tưởng chủ nghĩa cường quốc, tiến hành cân bằng quyền lực giữa các cường quốc dù cho phải hy sinh quyền lợi của những quốc gia yếu thế.
Với học thuyết Nixon này, Kissinger muốn tái diễn trò chơi cân bằng quyền lực (balance of power) ở châu Á. Tất nhiên, có nhiều nghi ngờ liệu chính sách này có mang lại hòa bình và ổn định cho châu Á. Đặc biệt với học thuyết này Mỹ muốn thực hiện chiến lược toàn diện, kiểm soát Liên Xô thông qua sự hòa dịu với Trung Quốc. Tuy nhiên, những quốc gia đồng minh của Mỹ ở châu Á, quốc gia nhỏ như Hàn Quốc lại phải đối mặt với căng thẳng chính trị, khủng hoảng kinh tế - xã hội và nguy cơ an ninh quốc gia bởi không có đủ năng lực để đối phó với những tình thế đó.
23 Học thuyết Guam của chính quyền Richard Nixon ra đời, đánh dấu thời kỳ quan hệ quốc tế hòa hoãn. Mỹ chuyển từ xu thế đối đầu sang đối thoại với Liên Xô, giải quyết những vấn đề khó khăn nội bộ của đất nước và ở các khu vực khác trên thế giới, nhất là ở Trung Đông và châu Âu. Hai siêu cường quốc bước vào giai đoạn hòa hoãn bằng cuộc gặp gỡ chính thức của Tổng thống Mỹ Richard Nixon và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev vào tháng 5 năm 1972 ở Moscow, cam kết không tiếp tục can thiệp sâu vào chiến tranh ở Việt Nam. Mỹ và Liên Xô nỗ lực đạt được thỏa thuận Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo – ABM (Anti-Ballistic Missile Treaty), Hiệp ước hạn chế vũ khí tiến công chiến lược - SALT – 1 (Strategic Arms Limitation Treaty 1) vào năm 1972; và sau đó là SALT – 2 (Strategic Arms Limitation Treaty 2) vào năm 1979.
Trong những năm 1950, mối quan hệ Liên Xô - Trung Quốc vô cùng tốt đẹp nhưng cũng tồn đọng những bất hòa tiềm ẩn. Chính quyền Trung Quốc bày tỏ thái độ không hài lòng đối với hành động ủng hộ quan điểm duy trì thế cân bằng lực lượng hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, bởi nó không có lợi cho Trung Quốc. Trong cuộc xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Ấn Độ, Liên Xô không đứng về phía Trung Quốc – một đồng minh trong khối xã hội chủ nghĩa, khiến chính quyền Mao Trạch Đông không hài lòng. Ngày 12 tháng 9 năm 1959, Liên Xô ký kết một hiệp định cung cấp cho Ấn Độ một khoản tín dụng trị giá 1,5 tỷ rúp thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ năm của Ấn Độ (Lê Phụng Hoàng, 2005, tr.
Bài phát biểu của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô N. Khrushchev trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 9 năm 1960, làm mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô càng thêm gay gắt. Sau khi Trung Quốc công khai chỉ trích sự kiện tên lửa của Liên Xô ở Cuba vào tháng 10 năm 1962 và Liên Xô chọn đứng về phe Ấn Độ, cung cấp vũ khí cho quân đội nước này trong cuộc xung đột vũ trang biên giới với Trung Quốc diễn ra cùng thời điểm đó, càng khiến cho mối quan hệ hai quốc gia rơi vào tình trạng xấu, chuyển sang đối đầu về ngoại giao và quân sự. Đặc biệt, từ năm 1966, Trung Quốc chìm trong cơn bão chính trị dữ dội – “Đại cách mạng văn hóa vô sản”.
Tình hình trong nước rối rắm và những căng thẳng này đã làm tăng tính gay gắt trong chính sách của Trung Quốc đối với Liên Xô. Trong những năm 1968 - 1969, nhiều cuộc va chạm của lực lượng biên phòng hai nước liên tiếp xảy ra. Tháng 4 năm 1969, trong Đại hội 24 thứ IX của Đảng Cộng sản, Trung Quốc đã đưa Liên Xô lên hàng kẻ thù số một của Trung Quốc, chống Liên Xô thành quốc sách và được đưa vào cương lĩnh chính trị của đảng (Lê Phụng Hoàng, 2005, tr. Đây là một trong những lý do khiến Trung Quốc xoay chuyển chiến lược đối ngoại với chính quyền Richard Nixon vào những năm sau đó.
Mỹ lợi dụng mâu thuẫn hai quốc gia đứng đầu trong khối chủ nghĩa xã hội, tiến hành cải thiện mối quan hệ với Trung Quốc qua con đường ngoại giao, nhằm kiềm chế Liên Xô mở rộng ảnh hưởng của mình. Mỹ đã đưa ra nhiều sáng kiến đơn phương liên quan đến quân sự - vốn là khía cạnh gây cho Trung Quốc nhiều lo lắng nhất trong quan hệ hai nước. Chính quyền Washington tiến hành rút quân đội khỏi Việt Nam và Sư đoàn 07 ở dọc theo eo biển Đài Loan, tạo điều kiện cho Trung Quốc triển khai lực lượng quân sự với quy mô lớn hơn trong tranh chấp biên giới với Liên Xô (Lee Chun Geun, 2018, tr. Hành động này của Mỹ không chỉ mang ý đồ chia tách hai quốc gia đồng minh trong khối chủ nghĩa xã hội, đẩy cả hai vào thế đối đầu nhau, mà còn là cái cớ cho Mỹ thoát khỏi vũng lầy chiến tranh ở Việt Nam một cách danh dự.
Năm 1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon, cố vấn an ninh Henry Kissinger và bộ trưởng Ngoại giao William Rogers có chuyến thăm chính thức Trung Quốc. Mỹ và Trung quốc công bố bản Thông cáo chung trình bày các quan điểm khác nhau của cả hai về những vấn đề chi phối quan hệ giữa hai nước: Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản và Đài Loan (Lê Phụng Hoàng, 2005, tr.