CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm NHTM Theo luật các tổ chức tín dụng thì: “NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Chức năng của NHTM [25] * Chức năng trung gian tài chính Chức năng này của NHTM thể hiện ở việc NHTM một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong xã hội, từ nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các DN, các hộ gia đình, cá nhân và các cơ quan Nhà nước.
Mặt khác, NHTM sẽ dùng chính số tiền đã huy động này để đưa tới với các thành phần kinh tế trong xã hội đang thiếu vốn và có nhu cầu bổ sung vốn. Đây là vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường nhằm điều chuyển vốn từ người thừa sang người thiếu. Nhờ có chức năng này, NHTM đã góp phần quan trọng vào việc điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua của đồng tiền, kiềm chế lạm phát. * Chức năng trung gian thanh toán Trong thời đại ngày nay, từ các tổ chức kinh tế tới các DN, khách hàng cá nhân đều có nhu cầu thanh toán khi tham gia giao dịch mua bán.
Hiểu được điều này nên NHTM đóng vai trò là trung gian chuyển tiền nên NHTM đã cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán trong và ngoài nước phong phú như: uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc, thẻ tín dụng. Nhờ các phương tiện thanh toán mà nhu cầu tiền mặt cho chi trả ngày càng giảm, tiết kiệm được thời gian và chi phí cho xã hội. * Chức năng tạo phương tiện thanh toán Phương tiện thanh toán mà các NHTM tạo ra không phải là tiền giấy hay tiền kim loại, mà là tiền ghi sổ, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của 4 ngân hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ. Do đó bằng việc tín dụng các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán.
Ngoài các chức năng trên NHTM còn có các chức năng khác như: chức năng uỷ thác, chức năng môi giới. Hoạt động tín dụng của NHTM 1. Khái niệm tín dụng Trong xã hội, luôn có những người, những tổ chức có lượng tiền dư thừa nhàn rỗi không sử dụng đến nhưng cũng có những cá nhân, DN lại thiếu vốn để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, nhu cầu SXKD. Vấn đề này làm phát sinh mối quan hệ kinh tế được gọi là hoạt động tín dụng.
Nội dung của hoạt động này là vốn được dịch chuyển từ nơi tạm thời thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do sử dụng vốn vay. Quan hệ tín dụng đã hình thành và ra đời từ rất lâu, phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, qua từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển mà hoạt động tín dụng liên tục được nâng cao với các hình thức như: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước và tín dụng tiêu dùng. Mỗi một hình thức tín dụng đều có điều kiện kinh tế xã hội cụ thể.
Trải qua nhiều thời kỳ, các hình thức quan hệ tín dụng trước không hề mất đi mà vẫn còn tồn tại và phát huy tác dụng khi có sự ra đời một hình thức tín dụng mới. Cho tới ngày này, tất cả các hình thức tín dụng trên đều còn tồn tại và bổ sung lẫn nhau và có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế. Có nhiều quan niệm, ý hiểu khác nhau về hoạt động tín dụng, một trong những quan niệm đó là theo khoản 8 và khoản 10, điều 20 Luật các TCTD năm 2010: Hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng được định nghĩa là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để thỏa thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác. Đặc điểm của tín dụng ngân hàng [25] - Dựa trên cơ sở lòng tin là đặc điểm đầu tiên của hoạt động tín dụng.
Ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho khách hàng khi có lòng tin vào việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả và có khả năng hoàn trả nợ cả gốc và vốn vay đúng hạn. Bên cạnh đó, người đi vay thì tin tưởng vào khả năng sinh lời trong tương lai từ việc sử dụng vốn vay để có thể trả được nợ vay cũng như thu về lợi nhuận cho bản thân khách hàng. - Đặc điểm thứ hai của tín dụng đó là sự chuyển nhượng một tài sản có thời hạn. Ngân hàng là trung gian tài chính, là cầu nối giữa những người có tiền tạm thời nhàn rỗi với những người đang có nhu cầu sử dụng tiền nhưng lại không có tiền.
Do dùng lượng tiền huy động được từ dân cư và các tổ chức kinh tế rồi đem cho vay nên ngân hàng phải tính toán thời gian phù hợp để có thể đảm bảo lượng tiền trả cho những người gửi tiền khi họ có nhu cầu rút tiền về sử dụng. Vì vậy, để xác định thời hạn cho vay hợp lý, ngân hàng phải căn cứ vào tính chất thời hạn nguồn vốn của mình và quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Đối với các khoản tín dụng dài hạn thì phải được đầu tư cho vay bằng nguồn vốn dài hạn và ngược lại. Nếu ngân hàng xác định thời hạn vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì khách hàng không có đủ nguồn để trả nợ khi đến hạn, gây khó khăn cho khách hàng.
Tuy nhiên, nếu thời hạn cho vay lớn hơn chu kỳ luân chuyển vốn sẽ tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, gây rủi ro tín dụng cho ngân hàng. - Đặc điểm tiếp theo của hoạt động tín dụng là phải trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đã là cho vay thì người đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả gốc vay. Tuy nhiên, trong quá trình cho vay, bên cho vay đã mất nhiều chi phí phục vụ cho công tác thẩm tra, theo dõi khách hàng vay cũng như phải trả lãi cho khách hàng gửi tiền.
Vì vậy mà ngoài gốc vay thì người đi vay sẽ phải chịu một khoản lãi được xem là chi phí để được sử dụng vốn vay. - Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro cao cho ngân hàng chính là đặc 6 điểm thứ năm. Việc phải trả gốc và lãi vay là nghĩa vụ và trách nhiệm mà bên đi vay phải thực hiện. Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy nhiều trường hợp khách vay không có khả thanh toán toán.
Nguyên nhân dẫn tới việc này không chỉ xuất phát từ phía ngân hàng hay khách hàng vay vốn mà còn phụ thuộc vào môi trường kinh tế bên ngoài tác động nằm ngoài tầm kiểm soát như sự biến động về giá cả, lãi suất, tỷ giá, lạm phát. Khi khách hàng gặp khó khăn do môi trường kinh doanh thay đổi, dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ, điều này khiến cho ngân hàng gặp rủi ro tín dụng. - Đặc điểm cuối cùng của hoạt động tín dụng đó là dựa trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Quá trình xin vay và cho vay diễn ra trên cơ sở những căn cứ pháp lý chặt chẽ như: Hợp đồng tín dụng, khế ước vay tiền, bảo lãnh.
trong đó bên đi vay phải cam kết hoàn trả vô điều kiện khoản vay cho ngân hàng khi đến hạn. Nếu không trả cho bên cho vay thì sẽ được xử lý theo quy định của ngân hàng cũng như pháp luật hiện hành. Phân loại tín dụng [25] 1. Căn cứ vào phương thức cho vay - Cho vay theo món vay hay cho từng lần Đây là phương thức cho vay mà mỗi lần khách hàng vay món nào thì sẽ phải làm hồ sơ món đó.
Như vậy, với cùng một khách hàng có bao nhiêu món vay thì sẽ có bấy nhiêu hồ sơ vay cho khách hàng đó. Bộ phận tín dụng sẽ tiến hành phân tích và xem xét cho vay đối với từng hồ sơ cụ thể. - Cho vay theo hạn mức tín dụng Phương thức vay này lại trái ngược với phương thức trên. Có nghĩa là khách hàng chỉ cần lập một bộ hồ sơ vay vốn vào đầu kỳ kế hoạch và sử dụng nó cho nhiều món vay.
Cụ thể, khách hàng nộp hồ sơ vay vốn một lần vào đầu quý, dù trong quý khách hàng có nhiều món vay cũng chỉ cần một bộ hồ sơ duy nhất. Cán bộ tín dụng sẽ tiến hành phân tích, thẩm định. Nếu đồng ý cho vay, ngân hàng và khách hàng sẽ tiến hàng ký kết hợp đồng tín dụng. Trong hợp đồng này sẽ xác định cụ thể hạn mức tín dụng cho khách hàng.
7 - Cho vay theo hạn mức thấu chi Phương thức vay này được hiểu là khách hàng có thể chi vượt số tiền có trong tài khoản thanh toán của mình mà trước đó đã có sự thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng làm điều này và phải phù hợp với các quy định của pháp luật về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. - Cho vay theo dự án đầu tư Phương thức vay này là việc các TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án phát triển SXKD, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống. - Cho vay hợp vốn Đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của khách hàng không chỉ một TCTD cho vay mà bao gồm cả một nhóm các TCTD. Trong đó, một TCTD sẽ làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác cùng thực hiện.
- Cho vay trả góp Khách hàng và TCTD sẽ xác định lãi suất thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc và được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. - Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng Khách hàng được TCTD chấp nhận cho phép sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD.