CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hứng thú và hứng thú học tập Ngữ văn của HS THPT 1. Một số khái niệm 1. Hứng thú Hứng thú là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như trong đời sống.
Hứng thú là một dạng tâm lí phức tạp. Vì vậy, vấn đề này luôn được các nhà tâm lí học quan tâm nghiên cứu. Theo Đại từ điển Tiếng Việt: “Hứng thú là cảm giác thích thú thấy trong người mình đang có một sức thôi thúc làm cái gì đó”. Hứng thú nếu là danh từ chỉ sự ham thích (Tác phẩm gây được hứng thú cho người đọc).
Hứng thú là tính từ: Cảm thấy hứng thú, thích thú, hào hứng, hứng thú với công việc [26, tr. Theo Từ điển Tâm lý học: “Hứng thú là biểu hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm thích thú. Trong cuốn Vấn đề hứng thú nhận thức trong giáo dục học, G.Sukina nhấn mạnh: “Hứng thú - đó là sự kết hợp độc đáo các quá trình tình cảm - ý chí và quá trình trí lực, tính tích cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao” và “đó là thái độ riêng của cá nhân đối với đối tượng, ý thức được ý nghĩa cuộc sống và sự hấp dẫn về tình cảm gây ra” [33, tr. Khar-la-mốp đã nêu: “Hứng thú - đó là nhu cầu nhuốm màu sắc xúc cảm đi trước giai đoạn gây động cơ và làm cho hoạt động của con người có tính chất hấp dẫn” [33, tr.
“Điều đó gây cho các em niềm vui sướng, sự hưng phấn xúc cảm và kích thích tình tích cực nhận thức” [33, tr. Tương tự, trong cuốn Phương pháp đọc sách, A.Ri-ma-cốp-xki cho rằng “Lòng đam mê, thích thú môn học và sự thấm nhuần mục đích học tập sẽ giúp người ta khắc phục khó khăn, nâng cao được năng lực làm việc” [32, tr. 8 z Nhà tâm lý học Cô-va-li-ôp cũng đưa ra quan niệm của mình trong cuốn Tâm lý học cá nhân như sau: “Hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó”. “Hứng thú đó là sự kết hợp độc đáo quá trình tình cảm - ý chí và quá trình nghị lực, tính tịch cực nhận thức và hoạt động của con người được nâng cao” [29, tr.
Bên cạnh đó trong Luật giáo dục được Quốc hội ta thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2009, tại kì họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, ở Điều 28 - Yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục phổ thông đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [17, tr. Để gây hứng thú cho HS chúng ta phải “.giúp học sinh cảm xúc niềm vui sướng của sự thành công, tin tưởng vào sức của mình, vào khả năng vượt qua khó khăn sẽ gặp” [34, tr. Như vậy, hứng thú là một trạng thái tâm lý phức tạp của con người, là thái độ của cá nhân đối với một đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong cuộc sống vừa có ý nghĩa mang lại một khoái cảm. Hứng thú sẽ làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, làm nảy sinh khát vọng hành động cũng như sự sáng tạo trong công việc.2 Hứng thú học tập Ngữ văn Hoạt động học tập là hoạt động nhận thức mang tính tích cực, tự lực và sáng tạo.
Để tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, phát huy được tính tích cực, sự sáng tạo của người học cần phải tạo được hứng thú nhận thức. Hứng thú nhận thức của con người rất phong phú, đa dạng. Trong nhà trường, hứng thú nhận thức của HS chính là hứng thú học tập. Vì thế có thể đưa ra định nghĩa học tập môn Ngữ văn trong nhà trường như sau: Hứng thú học tập trong môn Ngữ văn là thái độ say mê, tích cực của HS trong quá trình học tập môn 9 z Ngữ văn do thấy được ý nghĩa của nó trong cuộc sống và có sự gắn bó tình cảm sâu sắc với nó.
Thái độ này thể hiện trong mọi hoạt động của cá nhân, rõ nét nhất là trong hoạt động học tập. Những đặc trưng cơ bản của hứng thú học tập 1. Tính lựa chọn Tính lựa chọn của hứng thú biểu hiện ở thái độ đặc thù của mỗi các nhân đối với từng môn học, từng nội dung học. Thái độ đặc thù của cá nhân thể hiện rõ nhất ở trong hứng thú cá nhân.
Có nghĩa là trước mọi đối tượng, mọi hiện thực khách quan, con người nhìn nhận nó với một thái độ của riêng mình. Cái gì có ý nghĩa quan trọng, có giá trị với chính cá nhân, có liên quan tới sự phát triển của cá nhân, cá nhân cảm thấy hứng thú thì sẽ được lựa chọn. “Tính lựa chọn của hứng thú là biểu hiện xu hướng lựa chọn của quá trình tâm lý nhằm vào các đối tượng của thế giới làm thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân” [31, tr. Sự kết hợp nhuần nhuyễn và hữu cơ giữa quá trình nhận thức và quá trình tình cảm của cá nhân Cấu tạo của hứng thú gồm nhận thức và tình cảm.
Sự cấu tạo hai phần này của hứng thú có sự kết hợp nhuần nhuyễn, hữu cơ với nhau tạo nên một hứng thú hoàn chỉnh và trọn vẹn. Thành phần nhận thức là nắm lấy đối tượng và hiểu rõ đối tượng ở mức độ sâu sắc, đi sâu vào bản chất của đối tượng. Đây là bộ phận mang tính lí trí cao. Nó tham gia vào hứng thú người học; có nhiệm vụ thúc đẩy người học tìm, nhìn nhận ra những giá trị, ý nghĩa, tầm quan trọng của đối tượng trong cuộc sống và đối với cá nhân người học.
Thành phần tình cảm được cho là có vai trò hết sức quan trọng. Nó giúp cho việc nhận thức diễn ra nhanh, hiệu quả, dễ dàng và thoải mái hơn. Bởi tình cảm là nguồn nuôi dưỡng hứng thú, giúp cho hứng thú được hình thành và phát triển. Việc người học có hứng thú nhiều hay ít dựa trên tình cảm của cá nhân 10 z người học với đối tượng.
Thành phần tình cảm cũng làm cho hứng thú cá nhân có sắc thái riêng, mang tính cá nhân. Khi nhận thức và tình cảm trong hứng thú kết hợp với nhau thì hứng thú cá nhân sẽ sâu sắc và bền lâu hơn. Đồng nghĩa với việc khi có hứng thú học tập, HS sẽ tích cực hơn, lôi cuốn hơn, có ý chí tập trung cao hơn từ đó có tình cảm sâu sắc với đối tượng, muốn đi sâu vào tìm hiểu đối tượng. Thống nhất giữa chủ thể và khách thể Trong nghiên cứu hứng thú, giữa chủ thể và khách thể có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau.
Nó là cơ sở nghiên cứu các biện pháp kích thích hứng thú cho HS. Theo các nhà xã hội học sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể đó theo tính chất khách quan của sự tồn tại hứng thú và phản ánh hứng thú trong ý thức của con người. “Hứng thú là sự thống nhất giữa biểu hiện thực tế của nội tại với sự phản ánh thế giới khách quan, với tổ hợp những giá trị vật chất và tinh thần của nền văn hóa nhân loại trong ý thức của chủ thể” [Dẫn theo15, tr. Các điều kiện để tạo hứng thú học tập 1.
Điều kiện về mục tiêu và nội dung học tập Mục tiêu học tập do người dạy thiết kế và cũng là cái quyết định xem người học hứng thú yêu thích hay không. Nội dung học tập là kiến thức mà người học sẽ chiếm lĩnh và biến nó thành của bản thân. Nội dung học tập tồn tại khách quan với người học, là phần mà người học có thể đạt được các mục tiêu học tập. Tuy nhiên, không phải tất cả mục tiêu học tập đều là mục tiêu kiến thức bên trong mà người học khao khát muốn đạt được.
Chỉ những yếu tố nào của mục tiêu học tập trở thành đối tượng học tập, hoạt động học tập thì mới thực sự trở thành mục tiêu bên trong của người học. Để gia tăng hứng thú và khả năng chiếm lĩnh nội dung học tập cần phải làm cho nội dung học tập trở thành đối tượng của hoạt động học tập, phải thực sự coi nội dung học tập là hình thái đối tượng hóa của những mục tiêu học tập. Do học tập là tổ hợp 11 z những hoạt động khác nhau được người học thực hiện nhằm chiếm lĩnh đối tượng nên nội dung học tập là các mục tiêu học tập được đặt dưới hình thức những hoạt động của người học trong quá trình học tập như hoạt động nhận thức, hoạt động giao tiếp, hoạt động vui chơi, hoạt động quản lí tri thức,. Nội dung học tập muốn trở thành điều kiện tạo hứng thú cho HS thì phải đảm bảo về các mặt sau: - Hấp dẫn về nhận thức: Các kiến thức mà nội dung học tập đưa ra phải là những kiến thức thu hút HS, không phức tạp cũng như không quá đơn giản, phải đảm bảo chúng nằm trong phạm vi phát triển gần của mỗi người.
- Đa dạng hóa trong cách trình bày và mô tả đảm bảo HS có nhu cầu và thích học: Nội dung học tập phải được thiết kế một cách lôgic với nhiều hướng tiếp cận khác nhau để HS có thể tiếp cận ở nhiều con đường, từ đó bộc lộ rõ bản chất nội dung học tập. Để đảm bảo nội dung học tập tạo được hứng thú cho người học, người dạy phải có kĩ năng sư phạm. Nội dung học tập được thiết kế và mô tả đạt hiệu quả khi có sự hỗ trợ của nhiều phương tiện dạy học và tài liệu học tập. - Nội dung học tập tạo ra nhiều cơ hội cho phép người học kiến tạo kiến thức: Khi thiết kế nội dung học tập cần chú ý tới các tình huống, các hoàn cảnh có thể giúp người học kiến tạo tri thức cho mình trong phạm vi của nội dung học tập.
Vì vậy, cần căn cứ vào sự phát triển cá nhân của người học để dự kiến những yếu tố cấu thành hoàn cảnh cụ thể của học tập làm cho người học tạo được cấu trúc mới trong kinh nghiệm của mình mà thích ứng được với hoàn cảnh.