phần Mở đầu và Kết luận, nộiu dung của luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP PHẦN VĂN BẢN NHẬT DỤNG CHO HỌC SINH LỚP 12 Chƣơng 2: CÁC BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CÁC BÀI HỌC VỀ VĂN BẢN NHẬT DỤNG – CHƢƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 NÂNG CAO Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM 17 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP PHẦN VĂN BẢN NHẬT DỤNG CHO HỌC SINH LỚP 12 1. VBND và các bài học về VBND trong chƣơng trình Ngữ văn 1. Một số khái niệm 1. VBND Khái niệm VBND tạm dịch từ chữ everyday tets.
Khái niệm VBND nhiều khi còn đƣợc dịch là văn bản ứng dụng [37, tr. VBND không phải là một khái niệm chỉ loại thể hoặc chỉ kiểu văn bản. Nói đến VBND trƣớc hết là nói đến tính chất nội dung của văn bản. VBND là những văn bản có nội dung gần gũi, bức thiết với cuộc sống trƣớc mắt con ngƣời và cộng đồng xã hội hiện đại nhƣ: Thiên nhiên, môi trƣờng, năng lƣợng, dân số, ý thức trách nhiệm công dân… Ví dụ, văn bản Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS của Cô-phi-An-nan đƣợc đƣa vào chƣơng trình sách giáo khoa Ngữ văn 12 (tập I, bộ nâng cao) là một VBND.
Đề tài mà văn bản hƣớng tới là vấn đề phòng chống căn bệnh thế kỉ - một đề tài mà cả xã hội, cộng đồng luôn luôn quan tâm, một vấn đề mang tính thời sự cấp thiết. Văn bản Xin thầy hãy dạy cho con tôi trong phần đọc thêm thuộc bài học Các thao tác nghị luận, Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập I cũng là một VBND. Nội dung mà văn bản này hƣớng tới là vấn đề giáo dục trẻ em trên toàn thế giới. Trong chƣơng trình Ngữ văn phổ thông nói riêng và chƣơng trình NGữ văn 12 nâng cao nói riêng, VBND đƣợc sử dụng làm ngữ liệu trong các bài học về VBND.
Bài học đó có thể là bài đọc hiểu, bài tập làm văn, tiếng Việt. 18 z Nghĩa là, VBND vừa là công cụ, vừa là đối tƣợng tìm hiểu trong các bài học về VBND. Bài học về VBND Là những bài học mà ở đó VBND đƣợc sử dụng làm ngữ liệu hoặc công cụ, hoặc vừa là công cụ vừa là ngữ liệu. Nhắc đến khái niệm bài học về VBND là nhắc tới một phạm vi dạy học rộng hơn so với khái niệm VBND.
Bài học về VBND bao gồm một hệ thống từ mục tiêu dạy học, các hoạt động, các thao tác dạy học, các nội dung kiến thức mang tính nhật dụng. Các nội dung kiến thức này có thể nằm trong VBND hoặc nằm ngoài VBND. Chẳng hạn, tính nhật dụng của bài học về VBND Phát biểu theo chủ đề và phát biểu tự do trong Chƣơng trình Ngữ văn 12 nâng cao tập I không nằm trong một văn bản nào mà nó nằm trong toàn bộ nội dung bài học từ mục tiêu bài học, từ các câu văn ngữ liệu, từ các đề bài văn đƣa ra cho HS. Tất cả đều hƣớng HS tới vấn đề: làm thế nào để có một bài phát biểu hay, ấn tƣợng trong từng tình huống riêng biệt trong cuộc sống.
Một ví dụ khác, với bài đọc hiểu Truyện An Dƣơng Vƣơng – Mỵ Châu, Trọng Thủy, tính nhật dụng của bài học này nằm trong văn bản có tính nhật dụng: Truyện An Dƣơng Vƣơng – Mỵ Châu, Trọng Thủy và nằm trong hệ thống câu hỏi hƣớng HS liên hệ tới vấn đề mang tính thời sự hiện nay: vấn đề cảnh giác với giặc ngoại xâm; vấn đề bảo vệ, giữ vững an ninh chủ quyền đất nƣớc. Những đặc trưng của VBND Hầu hết các bài học về VBND trong chƣơng trình Ngữ văn phổ thông nói chung và chƣơng trình Ngữ văn 12 nâng cao nói riêng đều lấy các VBND làm ngữ liệu, đối tƣợng để tìm hiểu. Ở các bài học đọc hiểu về VBND thì nội dung của VBND cũng là nội dung dạy học ngƣời GV cần hƣớng tới. Vì vậy, việc tìm hiểu những đặc trƣng cơ bản của VBND là rất cần thiết , qua đó có 19 z thể tạo cơ sở xây dựng hệ thống các biện pháp tạo hứng thú cho HS trong giờ học các bài học về VBND trong chƣơng trình Ngữ văn 12 nâng cao.
VBND có những đặc trƣng sau: 1. Tính thực tiễn Đây là đặc trƣng cơ bản nhất và cũng là dấu hiệu để nhận biết các VBND và bài học về VBND. Nội dung của các VBND gần gũi, bức thiết với cuộc sống xã hội, với bản thân mỗi ngƣời học. Tiếp xúc với các VBND, ngƣời học biết đến những vấn đề thời sự gần gũi hằng ngày mà mỗi cá nhân và cộng đồng đều quan tâm, chẳng hạn nhƣ vấn đề môi trƣờng, dân số, thị trƣờng hoặc những vấn đề lớn lao hơn nhƣ quyền trẻ em, bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục, vấn đề nhân tài, ý thức trách nhiệm của công dân đối với đất nƣớc.
Ở các bài học hƣớng dẫn HS cách tạo lập VBND (các bài học Làm văn), thì chính các VBND sẽ trở thành công cụ giao tiếp cho bản thân các em trong cuộc sống hằng ngày. Chẳng hạn, một văn bản thuyết minh về một vấn đề nào đó trƣớc đám đông, một văn bản kế hoạch cá nhân hay một văn bản quảng cáo là chính sản phẩm của ngƣời học sẽ là cần thiết cho cuộc sống của các em sau này. Với đặc trƣng về tính thực tiễn, VBND trở thành sợi dây kết nối ngƣời học với thực tiễn cuộc sống đang diễn ra xung quanh họ. Tính cập nhật Không có sự phân biệt quá rõ ràng giữa đặc trƣng về tính thực tiễn với đặc trƣng về tính cập nhật của các VBND song cần phải thấy rằng: Nội dung thông tin, các vấn đề và số liệu mà các VBND đƣa đến cho ngƣời học thƣờng là những vấn đề còn rất mới, rất thời sự, liên tục cập nhật.
Đặc trƣng này đã làm cho các VBND, bài học về VBND có thể lôi cuốn ngƣời học không những trong việc đọc và tìm hiểu các văn bản mà còn có thể lôi cuốn học trong việc sƣu tầm, tìm hiểu các thông tin,văn bản, các số liệu về các vấn đề 20 z tƣơng tự đang diển ra xung quanh họ. Nhƣ vậy, tính cập nhật từ chỗ là đặc trƣng của văn bản chuyển dần sang cho ngƣời học. Ngƣời học sẽ tự làm cho mình trở thành con ngƣời năng động hơn trƣớc cuộc sống. Đa dạng hóa về phương thức biểu đạt Nhƣ đã nêu trong phần khái niệm, VBND không phải là một khái niệm chỉ loại thể hay kiểu văn bản mà chỉ nhằm nhấn mạnh tới nội dung của các văn bản ấy.
Do vậy, một VBND có thể sử dụng nhiều phƣơng thức biểu đạt khác nhau, chẳng hạn với văn bản Cầu Long Biên – Chứng nhân lịch sử trong chƣơng trình Sách giáo khoa Ngữ Văn 6, chúng ta có thể thấy đồng thời cả phƣơng thức tự sự, trữ tình trong văn bản ấy. Xét trên tổng thể, các VBND có thể xếp vào các kiểu văn bản khác nhau. Tức là VBND có thể dùng đến tất cả các kiểu văn bản: Văn bản thuyết minh. Ví dụ, văn bản Đền Ngọc Sơn và hồn thơ Hà Nội trong Sách giáo khoa Ngữ Văn 10 đƣợc sử dụng làm ngữ liệu dạy học trong bài học Tóm tắt văn bản thuyết minh là một văn bản thuyết minh giới thiệu với ngƣời đọc về di tích Đền Ngọc Sơn của Hà Nội.
Văn bản biểu cảm. Ví dụ, VBND, đoạn trích trong bức thƣ của tổng thống Mỹ A.Lincoon gửi thầy hiệu trƣởng của con trai mình: Xin thầy hãy dạy cho con tôi. Văn bản này đƣợc sử dụng làm ngữ liệu đọc thêm sau bài học Các thao tác nghị luận trong phân môn Làm Văn chƣơng trình Ngữ Văn 10. Văn bản khoa học, một bài báo thuyết minh khoa học.
Ví dụ văn bản Môi trường và cơ thể con người trong bài học Văn bản – Sách giáo khoa Ngữ văn 10 tập I, bộ cơ bản là một văn bản khoa học. Văn bản nghị luận. Ví dụ các VBND trong chƣơng trình Ngữ văn 12 bộ nâng cao: Con đường trở thành kẻ sĩ hiện đại (Nguyễn Khắc Viện); Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hƣợu)… 21 z Từ những hình thức đó, những vấn đề cập nhật của đời sống cá nhân và của cộng đồng hiện đại đƣợc khơi dậy…Các bài học về các vấn đề đó sẽ đánh thức và làm giàu tình cảm và ý thức công dân, cộng đồng trong mỗi ngƣời học giúp các em hòa nhập hơn vào cuộc sống xã hội. Đảm bảo về giá trị nghệ thuật Dù có đề cập đến vấn đề bức thiết đến đâu thì các VBND khi đã đƣợc đƣa vào chƣơng trình Ngữ văn đều đạt đến một giá trị nghệ thuật nhất định.
Hầu hết các VBND đều thuộc các thể loại, các kiểu văn bản khác nhau và đã đƣợc cân nhắc lựa chọn kĩ càng, có nội dung nổi bật và đảm bảo cả về mặt nghệ thuật. Ví dụ: văn bản Thông điệp nhân ngày Thế giới phòng chống AIDS của Cô-Phi-An-nan là một văn bản đề cập đến vấn đề hết sức cấp thiết: vấn đề phòng chống AIDS, nhƣng nó cũng đồng thời là một văn bản, một bài báo cáo có lập luận chặt chẽ, một thông điệp gửi tới bạn đọc đầy sức thuyết phục hợp tình, hợp lí. Nhận biết các đặc điểm trên của VBND sẽ giúp cho GV và HS có thể tìm ra các biện pháp tạo hứng thú học tập hợp lí nhằm nâng cao hiệu quả dạy học phần VBND trong chƣơng trình Ngữ văn nói chung và chƣơng trình Ngữ văn 12 nâng cao nói riêng. Ý nghĩa của việc dạy học VBND trong chương trình Ngữ văn Việc kết nối hơn nữa quá trình dạy học ở nhà trƣờng nói chung và dạy học Ngữ văn nói riêng với thực tiễn đời sống là một yêu cầu vừa hiển nhiên, vừa bức thiết.
Quá trình của ngƣời học phải luôn đi đôi với việc thực hành, phải luôn liên hệ với đời sống, nhất là trong thời đại ngày nay khi mà cuộc sống luôn yêu cầu mỗi ngƣời phải linh hoạt, chủ động, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh, mọi tình huống. Vì vậy, nội dung kiến thức các bài học đƣợc lựa chọn để đƣa vào sách giáo khoa cũng phải đƣợc điều chỉnh. Không phải chỉ là những kiến thức lí thuyết đơn thuần mà qua kiến thức ấy hình thành nên 22 z một sợi dây kết nối HS với đời sống hằng ngày, kết nối với những điều đang diễn ra xung quanh họ, giúp họ hòa nhập vào cuộc sống thực tiễn.