Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý giáo dục đạo đức học sinh ở Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện Nghĩa Hưng. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục đạo đức học sinh tại các Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh tại các Trung tâm Giáo dục Thường xuyên huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƢỜNG XUYÊN 1.1 Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Các nghiên cứu nước ngoài: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được hình thành từ buổi sơ khai của lịch sử, nó được hoàn thiện, phát triển trên cơ sở các chế độ kinh tế-xã hội. Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy định chuẩn mực hướng con người tới cái chân, thiện, mỹ.Đạo đức là sản phẩm của xã hội, đạo đức có ý nghĩa và vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách và thiết lập mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, giữa tập thể và quốc gia. Ở phương Tây, thời cổ đại, nhà triết học Hy Lạp nổi tiếng Socrate ( 469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện,nếu tính thiện ấy được lan toả thì con người sẽ có hạnh phúc.
Muốn xác định được chuẩn mực đạo đức, theo Socrate, phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học. Khổng Tử (551-478 TCN) là nhà hiền triết nổi tiếng của Trung Quốc. Ông xây dựng học thuyết “ Nhân – Lễ - Chính – Danh”, trong đó: “ Nhân” Lòng thương người – là yếu tố hạt nhân, là yếu tố cơ bản nhất của con người. Ông rất coi trọng vấn đề đạo đức, câu nói nổi tiếng của ông còn truyền lại đến ngày nay: “ Tiên học lễ - Hậu học văn”.
Thế kỷ XVII,Komemxky- Nhà giáo dục vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng góp cho công tác giáo dục đạo đức qua tác phẩm “ Khoa sư phạm vĩ đại”. Komemxky đã chú trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ cho học sinh. 5 z Thế kỷ XX một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về GDĐĐ học sinh như: A. nghiên cức GDĐĐ trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.2 Các nghiên cứu trong nước : Ở Việt Nam chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và giáo dục đạo đức cho cán bộ, học sinh.
Bác cho rằng đạo đức cách mạng là nền tảng của cách mạng. Người viết về “đạo đức cách mạng” mà toàn Đảng, toàn dân ta đang thi đua phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Lý luận về đạo đức cách mạng của Người là những cống hiến vĩ đại, đặt nền móng cho phương pháp luận để nghiên cứu và tổ chức hoạt động giáo dục đạo đức cho toàn Đảng, toàn dân thực hiện mục tiêu giáo dục đạo đức của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, trong đó có giáo dục đạo đức cho học sinh trong các trường học. Trong nhiều thập kỷ qua đã có nhiều nhà giáo dục nghiên cứu sâu về đạo đức và giáo dục đạo đức học sinh: Giáo sư Tiến sỹ Phạm Minh Hạc - nhà nghiên cứu giáo dục hàng đầu Việt Nam đã nêu các định hướng giá trị đạo đức con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Tác giả Đặng Vũ Hoạt với cuốn sách “Đổi mới công tác giáo viên chủ nhiệm với việc giáo dục đạo đức học sinh”.Đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về công vệc ,các biện pháp của giáo viên chủ nhiệm trong việc giáo dục đạo đức nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay. Tác giả Phạm Khắc Chương với các cuốn :“Đạo đức học”, “Rèn đạo đức và ý thức công dân”.Tác giả cho rằng rèn luyện,xây dựng và phát triển đạo đức phải dựa trên cơ sở kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam và những chuẩn mực cơ bản của đạo đức mới. Tác giả Hà Nhật Thăng :“Giáo trình đạo đức học” NXB Giáo dục 2001.Xuất phát từ đặc trưng tâm lý học để nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân 6 z cách,thực hiện giáo dục đạo đức trong quá trình phát triển nhân cách,xem đó như mục tiêu quan trọng nhất của việc thực hiện chất lượng giáo dục. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Lý luận quản lý giáo dục”.Có nội dung khá đầy đủ và hệ thống về lý luận về quản lý giáo dục trong điều kiện môi trường kinh tế thị trường ở nước ta và các nước trên thế giới.
Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản Lý,quản lý giáo dục tiếp cận từ những mô hình”.Chú trọng vấn đề rèn luyện phương pháp tư duy khoa học để trên cơ sở đó tiếp cận nhiều mô hình quản lý khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý”. Đã có nhiều đề tài luận văn cao học đã nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh, về sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục về mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện, chức năng, nhiệm vụ của chủ thể tham gia giáo dục đạo đức,v.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan vấn đề nghiên cứu. Quản lý và chức năng quản lý: Quản lý là một hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục 1998 “Quản lý” được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển của một đơn vị, cơ quan”, “quản lý” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”.
“Quản” là sự trông coi, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định, “lý” là sửa sang, sắp xếp, đưa vào hoạt động, phát triển.Marx :“Quản lý là lao động điều khiển lao động”.Marx đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.Marx viết “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân … Một 7 z nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”. Theo Henry Fayol (1841-1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông đã khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt lên mục tiêu của tổ chức”. Ông đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành năm chức năng cơ bản “Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp ,kiểm tra” và sau này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản cuả quản lý: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
Ông đã đưa ra mười bốn nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội… Theo W.Taylor (1856-1915) thì: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.Taylor có bốn nguyên tắc quản lý khoa học. Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương pháp khoa học. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn.
Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản lý. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý 8 z (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức’’ [10,tr.1] Từ quan niệm của các tác giả đã nêu ,chúng ta có thể khái quát lại: “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng để đạt được mục tiêu đề ra’’. Các yếu tố của quản lý: + Phải có ít nhất một chủ thể quản lý , tác nhân tạo ra các tác động và khách thể quản lý (ít nhất là một đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý) + Phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này căn cứ để tạo ra các động lực chủ yếu. + Phải có hệ thống công cụ quản lý cần thiết ( hệ thống các văn bản về giáo dục, pháp luật.
+ Tác động của chủ thể quản lý phải phù hợp với khách thể quản lý, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị hoặc tổ chức. Tác động của chủ thể có thể là một lần nhưng cũng có thể là nhiều lần. Bất luận một tổ chức đều có mục đích gì, cơ cấu, quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý của người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt mục đích của mình. Lý luận và thực tế cho thấy quản lý không những là một môn khoa học mà còn là một “Nghệ thuật” đòi hỏi sự vận dụng tinh tế, khôn khéo, để đạt tới mục đích.
Mục tiêu quản lý là định hướng toàn bộ hoạt động quản lý đồng thời là công cụ để đánh giá kết quả quản lý. Để thực hiện những mục tiêu đó, quản lý phải thực hiện bốn chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo,và kiểm tra đánh giá.