CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CẢNG BIỂN 1. Các khái niệm cơ bản về cảng biển và dịch vụ cảng biển 1. Khái niệm, chức năng và vai trò của cảng biển Theo Điều 59 của Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2005 thì cảng biển là nơi được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt các trang thiết bị để cho tàu biển ra vào hoạt động bốc xếp hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện một số dịch vụ khác. Cảng biển gồm có vùng đất cảng và vùng nước cảng, trong đó vùng đất cảng là khu vực gồm cầu cảng, kho bãi, nhà xưởng, điện nước, thông tin liên lạc, hạ tầng giao thông kết nối cảng biển, khu hành chính, dịch vụ và các công trình phụ trợ khác.
Vùng nước cảng là khu vực bao gồm vùng nước trước cầu cảng, vùng neo đậu chuyển tải, luồng ra vào cảng, vùng quay trở tàu, khu tránh báo, vùng đón trả hoa tiêu và vùng để xây dựng các công trình phụ trợ khác.Smirnôp “Cảng biển là một đầu mối giao thông lớn, bao gồm nhiều công trình và kiến trúc, bảo đảm cho tàu thuyền neo đậu nhanh chóng, an toàn và thuận tiện để thực hiện các tác nghiệp xếp dỡ hàng hóa, đón trả hành khách từ các phương tiện giao thông trên đất liền sang các sang các phương tiện vận tải biển và ngược lại, bảo quản, gia công hàng hóa và phục vụ tất cả các nhu cầu cần thiết của các tàu neo đậu trong cảng” [17] Theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017 thì “Cảng biển là khu vực bao gồm vùng đất cảng và vùng nước cảng, được xây dựng kết cấu hạ tầng, lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền đến, rời để bốc dỡ hàng hóa, đón trả hành khách và thực hiện dịch vụ khác. Cảng biển có một hoặc nhiều bến cảng. Bến cảng có một hoặc nhiều cầu cảng”. Phân loại cảng biển a) Theo chức năng của cảng Căn cứ vào chức năng hoạt động, cảng biển được phân loại như sau: 6 Cảng tổng hợp: Là cảng thương mại giao nhận nhiều loại hàng hóa khác nhau, bao gồm thứ nhất là cảng tổng hợp quốc gia là các cảng có quy mô đạt công suất từ 01 triệu tấn trở lên, vùng hấp dẫn lớn, có tính khu vực.
Thứ hai là cảng tổng hợp của các địa phương, ngành là cảng có quy mô nhỏ chủ yếu phục vụ địa phương, các bộ ngành. Cảng chuyên dùng: Là các cảng thực hiện giao nhận một loại hàng hóa hoặc chỉ phục vụ riêng cho một đối tượng. Như cảng chuyên xếp dỡ hàng container, cảng xăng dầu, cảng than, cảng xi măng, cảng phân bón, cảng sắt thép. b) Theo phạm vi phục vụ Căn cứ vào phạm vi phục vụ, cảng biển gồm có: Cảng nội địa: Là cảng phục vụ cho hệ thống tàu thuyền, phương tiện thủy nội địa cập cảng giao nhận hàng hóa, thường là các cảng địa phương.
Cảng quốc tế: Là cảng thường có các tàu thuyền nước ngoài ra vào làm hàng. Nó có thể là cảng tổng hợp, cảng chuyên dùng hoặc là trung chuyển. c) Theo tính chất, tầm quan trọng của cảng biển Theo tính chất và tầm quan trọng của cảng biển tại Điều 75 Bộ luật Hàng hải mới năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2017, cảng biển được chia thành: “Cảng biển đặc biệt là cảng biển có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng và có chức năng trung chuyển quốc tế hoặc cảng cửa ngõ quốc tế; Cảng biển loại I: Là cảng biển có quy mô lớn phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc liên vùng; Cảng biển loại II: Là cảng biển có quy mô vừa phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội vùng; Cảng biển loại III: Là cảng biển có quy mô nhỏ phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội của địa phương” [16] 1. Khái niệm dịch vụ cảng biển Theo quan điểm truyền thống, nhiệm vụ chính của cảng là xếp dỡ hàng hoá.
Hiện nay, các lĩnh vực kinh doanh của cảng biển được mở rộng sang cả lĩnh 7 vực hậu cần cảng, kinh doanh kho bãi, các dịch vụ khác liên quan đến hàng hoá như phân phối và giám sát việc vận chuyển hàng hoá đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng – hay nói cách khác trở thành trung tâm logistics. Trên thế giới và ngay cả ở Việt Nam chưa đưa ra một khái niệm chung nào về dịch vụ cảng biển. Do đặc điểm chung của loại hình dịch vụ cũng như tính đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ nói chung và dịch vụ cảng biển nói riêng, cộng với cách giải thích khác nhau giữa các quốc gia nên việc đưa ra định nghĩa chung nhất cho loại hình dịch vụ này càng khó khăn. Chúng ta xem xét khái niệm dịch vụ cảng biển trên phạm vi bao quát của của Liên minh Châu Âu (European Union – EU) và trên phạm vi hẹp hơn tại Việt Nam.
a) Theo EU: Trong lộ trình thực hiện GATS, EU đã gửi các bản yêu cầu tới các thành viên, chi tiết hoá các loại hình hỗ trợ cho vận tải biển kèm theo các định nghĩa như sau: - Dịch vụ xếp dỡ hàng hoá: là dịch vụ thực hiện bởi các công ty xếp dỡ, kể cả công ty điều độ kho bãi nhưng không bao gồm các dịch vụ do lực lượng công nhân bốc xếp ở bến cảng trực tiếp thực hiện khi lực lượng này được tổ chức độc lập với các công ty xếp dỡ và điều độ bãi. - Dịch vụ lưu kho hàng hoá: là dịch vụ cho thuê kho bãi để chứa hàng tại khu vực cảng. - Dịch vụ khai báo hải quan (hay dịch vụ môi giới hải quan): là dịch vụ trong đó một bên thay mặt một bên khác làm các thủ tục hải quan liên quan đến việc xuất, nhập khẩu hoặc vận tải chở suốt của hàng hoá. - Dịch vụ kinh doanh kho, bãi Container: là dịch vụ lưu bãi Container tại khu vực cảng hoặc nội địa nhằm mục đích đóng hàng vào và dỡ hàng ra khỏi Container, sửa chữa và chuẩn bị Container sẵn sàng cho việc vận chuyển.
- Dịch vụ đại lý hàng hải: là dịch vụ làm đại lý đại diện cho quyền lợi thương mại của một hay nhiều hãng tàu trong khu vực địa lý xác định. [22] 8 b) Khái niệm dịch vụ cảng biển của Việt Nam: Theo quy định tại Điều 1 của Nghị định số 10/2001/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19/3/2001 về điều kiện kinh doanh dịch vụ hàng hải thì dịch vụ hàng hải bao gồm 9 loại hình sau đây: Dịch vụ đại lý tàu biển; Dịch vụ đại lý vận tải đường biển; Dịch vụ môi giới hàng hải; Dịch vụ cung ứng tàu biển; Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá; Dịch vụ lai dắt tàu biển; Dịch vụ sửa chữa tàu biển tại cảng; Dịch vụ vệ sinh tàu biển; Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển. [4] Bên cạnh một số dịch vụ trên, dịch vụ hàng hải hiện nay ở nước ta còn có thêm một số dịch vụ khác như: Dịch vụ trung chuyển Container quốc tế; Dịch vụ logistics (dịch vụ tiếp vận); Dịch vụ kinh doanh kho, bãi, depot… Như vậy, tại Việt Nam hiện cũng chưa có quy định chung nào về dịch vụ cảng biển. Theo khoản 2, Điều 90, Bộ luật Hàng hải mới năm 2015, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2017 quy định về Phí, lệ phí hàng hải và giá dịch vụ tại cảng biển [16] chỉ nêu chung chung 2 nhóm dịch vụ cảng biển chính gồm: - Dịch vụ bốc dỡ container; giá dịch vụ hoa tiêu; giá sử dụng cầu, bến, phao neo; giá dịch vụ lai dắt; - Dịch vụ khác tại cảng biển.
Như vậy, hiện chưa có một khái niệm chung, thống nhất vào về dịch vụ cảng biển. Theo tác giả có thể hiểu đơn giản: Dịch vụ cảng biển là tất cả các dịch vụ có liên quan phục vụ cho quá trình khai thác cảng biển, hỗ trợ cho ngành vận tải biển. Phân loại dịch vụ cảng biển a) Căn cứ vào tính chất dịch vụ: có các loại dịch vụ cảng biển sau: *) Các dịch vụ cảng biển mang tính trực tiếp: Dịch vụ cung ứng tàu biển; Dịch vụ sửa chữa tàu biển, Dịch vụ lai dắt tàu biển, Dịch vụ vệ sinh tàu biển; Dịch vụ kiểm đếm hàng hoá; Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển; Dịch vụ lưu kho hàng hoá; Dịch vụ kinh doanh kho bãi phục vụ hàng hoá xuất nhập khẩu… *) Các dịch vụ cảng biển mang tính trung gian: Dịch vụ đại lý tàu biển, đại lý hàng hải; Dịch vụ môi giới hàng hải; Dịch vụ kinh doanh vận tải không tàu… 9 c) Căn cứ vào phạm vi hoạt động: có các loại hình dịch vụ chính như sau: *) Các dịch vụ tuyến tiền phương: Dịch vụ lai dắt, vệ sinh tàu biển; Dịch vụ cung ứng hậu cần cho tàu biển; Dịch vụ bốc dỡ hàng hoá tại cảng biển… *) Các dịch vụ tuyến hậu phương: Dịch vụ nâng hạ tại bãi; Dịch vụ đóng rút hàng hóa; Dịch vụ kiểm hóa, kiểm dịch; Dịch vụ dịch vụ kinh doanh kho bãi; Dịch vụ điện lạnh; Dịch vụ lưu giữ hàng hóa, sửa chữa, vệ sinh container… 1. Vai trò của dịch vụ cảng biển a.
Dịch vụ cảng biển là bộ phận không thể thiếu trong vận tải biển, đóng vai trò “hậu cần” hỗ trợ cho vận tải biển. Dịch vụ cảng biển ra đời nhằm mục đích phục vụ cho vận tải biển. Đây là vai trò cơ bản nhất của dịch vụ này. Dịch vụ cảng biển đa dạng về loại hình đáp ứng được các nhu cầu cần thiết và ngày càng gia tăng của vận tải biển.
Tất cả các dịch vụ cảng biển đều được coi là mắt xích không thể thiếu trong quy trình khai thác vận tải biển, xử lý tất cả các tác nghiệp liên quan như: Dịch vụ lai dắt tàu biển, vệ sinh tàu biển, dịch vụ giao nhận, kiểm đếm hàng hoá, dịch vụ bốc dỡ, lưu kho hàng hoá tại cảng biển và các dịch vụ hỗ trợ khác. Dịch vụ cảng biển phát triển góp phần thúc đẩy vận tải biển phát triển. Dịch vụ cảng biển và vận tải biển có mối quan hệ tương hỗ tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển. Dịch vụ cảng biển làm tròn nhiệm vụ “hậu cần”, làm tăng khả năng cạnh tranh với các quốc gia khác, nhờ vậy sẽ thu hút thêm được lượng tàu lớn về các cảng trong nước, làm tăng sản lượng khai thác của cảng, thúc đẩy ngành hàng hải phát triển.