Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm và ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự Các BPNC là một trong những chế định pháp lý quan trọng được quy định tại chương VI của BLTTHS năm 2003. Việc nhận thức thống nhất, đồng thời quy định và áp dụng đúng đắn các BPNC là bảo đảm cần thiết cho việc thực hiện tốt các nhiệm vụ của TTHS để phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Trong lịch sử pháp luật TTHS Việt Nam, mặc dù chưa có quy phạm định nghĩa về khái niệm BPNC, nhưng các BPNC đã được quy định trong các văn bản pháp luật TTHS nước ta ngày từ sau Cách mạng tháng Tám.
Sắc lệnh số 02- SL ngày 18/6/1957 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định “những trường hợp phạm tội quả tang và trường hợp khẩn cấp” và Sắc lệnh số 02-SL ngày 15/3/1976 của Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà miền Nam Việt Nam đã quy định các BPNC: “bắt bình thường, bắt khẩn cấp, bắt người phạm pháp quả tang, tạm giữ và tạm giam”. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này không có quy phạm định nghĩa về BPNC mà dùng thuật ngữ biện pháp cưỡng chế để chỉ nội dung các BPNC trong luật TTHS thời bấy giờ. Trong khoa học luật TTHS, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn hình thành khái niệm các BPNC đã và đang có nhiều quan đểm khác nhau giữa các nhà nghiên cứu pháp luật. Sau đây, tác giả luận văn này xin trích dẫn một số quan điểm phổ biến: Có quan điểm cho rằng, “những BPNC là những biện pháp cưỡng chế trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi 7 tố (trong trường hợp bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án” [4, tr.
Khái niệm này đã nêu ra được đối tượng bị áp dụng BPNC, mục đích áp dụng BPNC tuy nhiên lại chưa làm rõ được chủ thể áp dụng các BPNC. Đặc biệt, trong khái niệm đã nêu chưa có sự phân biệt rõ giữa mục đích và căn cứ áp dụng. Theo một quan điểm khác khẳng định: “những BPNC được áp dụng trong hoạt động TTHS là biện pháp do luật định được thực hiện khi xét thấy cần thiết nhằm ngăn chặn kẻ phạm tội đang có hành vi thực hiện tội phạm hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm, loại trừ việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và ngăn ngừa bị can, bị cáo, người bị kết án trốn tránh để đảm bảo cho việc thi hành án được thực hiện” [13, tr. Theo chúng tôi, quan điểm này đã có những nhận xét đúng đắn là các BPNC chỉ áp dụng khi xét thấy cần thiết nhằm ngăn chặn người phạm tội đang có hành vi thực hiện tội phạm, loại trừ việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử,… Đây là vấn đề rất cơ bản nhằm phân biệt các BPNC với biện pháp hình phạt là chế tài hình sự.
Không phải tất cả mọi trường hợp người phạm tội đều bị áp dụng BPNC. Tuy nhiên, trong khái niệm này chưa nêu được chủ thể nào có quyền áp dụng BPNC cũng như những vấn đề khác liên quan đến căn cứ và điều kiện áp dụng các BPNC. Cũng có quan điểm cho rằng, “BPNC là biện pháp do CQĐT, VKS, Toà án áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị kết án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội” [41, tr. Nếu so sánh với các quan điểm đã nêu ở trên, thì khái niệm này đã phần nào đề cập đến bản chất của các BPNC được quy định trong BLTTHS, 8 đồng thời đã nêu được tính chất của các BPNC, cơ quan có thẩm quyền áp dụng, đối tượng và căn cứ áp dụng BPCN.
Trong BLTTHS Việt Nam hiện hành, mặc dù nhà làm luật không đưa ra một khái niệm về BPNC, song tại Điều 79 BLTTHS 2003 quy định: “để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội, cũng như khi cần bảo đảm thi hành án, thì CQĐT, VKS hoặc Toà án có thể áp dụng một trong những BPNC sau đây: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm” [17]. Phân tích lời văn của điều luật trên đây có thể thấy các căn cứ đó cũng đã phản án một phần bản chất của BPNC trong pháp luật TTHS Việt Nam. Tuy nhiên, BPNC là biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc của TTHS, do vậy trong khái niệm về BPNC đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng về chủ thể áp dụng, về thẩm quyền áp dụng, về đối tượng bị áp dụng, về căn cứ và mục đích áp dụng liên quan đến các vấn đề nêu trên đây cũng có quan điểm cho rằng. Giáo trình luật TTHS Việt Nam–Trường Đại học Luật Hà Nội cho rằng: “BPNC là biện pháp cưỡng chế trong TTHS áp dụng với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang và người cần phải bắt trong trường hợp khẩn cấp.
Nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm của họ, ngăn chặn người đó gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và tiếp tục phạm tội hoặc trốn”.189] Theo một quan điểm khác BPNC là một loại biện pháp do CQĐT, VKS và Toà án áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả người bị kết án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc tiếp tục phạm tội. BPNC gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.511] Rõ ràng, các sách báo, tài liệu nêu trên cũng đã đề cập được khía cạnh này hay khía cạnh khác về các BPCN, nhưng nhìn chung vẫn chưa đưa ra được một 9 khái niệm đầy đủ, khoa học chứa đựng tất cả các yếu tố cấu thành của BPNC thể hiện ở các dấu hiệu đặc trưng như căn cứ áp dụng, mục đích, thẩm quyền áp dụng và đối tượng bị áp dụng BPCN. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, một khái niệm hoàn chỉnh, chính xác về các BPCN thì trong khái niệm đó còn phải bao hàm tất cả các đấu hiệu đặc trưng của các BPCN như: căn cứ áp dụng, mục đích áp dụng, thẩm quyền áp dụng và đối tượng áp dụng BPNC. Từ những phan tích khái quát trên đây có thể nêu ra khái niệm BPNC, theo đó: BPNC là những biện pháp cưỡng chế TTHS do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố, khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội.
BPNC gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Trên thực tế đấu tranh phòng, chống tội phạm, người thực hiện tội phạm nói chung luôn mong muốn trốn tránh khỏi sự trừng phạt của pháp luật nên yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm là buộc áp dụng các BPNC trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, phục vụ cho mục đích của TTHS. Cho nên việc áp dụng BPNC bao giờ cũng có ý nghĩa sâu sắc, có thể nói lý do áp dụng BPNC là: Thứ nhất, cho phép loại bỏ những trở ngại trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của TTHS như không cho tội phạm cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; đảm bảo việc thi hành án đối với người phạm tội, buộc họ phải chịu hình phạt của pháp luật. Đây là một trong những mục đích quan trọng của TTHS cần đạt được.
Việc điều tra, truy tố, xét xử sẽ trở nên vô nghĩa khi người phạm tội tránh được hình phạt của pháp luật. Vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra cho TTHS, như quy định tại Điều 13 BLTTHS năm 2003 phải là: “khi phát hiện có đấu hiệu tội phạm thì CQĐT, VKSND và Toà án trong phạm vi quyền hạn của 10 mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp của Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội” [17]. Thứ hai, góp phần bảo vệ có hiệu quả quyền lợi của nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Thực tế chỉ ra nếu không áp dụng BPNC đối với những người cần áp dụng thì họ vẫn tiếp tục thực hiện tội phạm, tiếp tục có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
Thứ ba, góp phần tăng cường pháp chế và củng cố trật tự pháp luật ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Muốn xây dựng xã hội mới, đòi hỏi mọi công dân sống trong xã hội phải tuyệt đối tuân thủ pháp luật. Tuy nhiên, pháp luật sẽ không được tuân thủ khi các công dân tỏng xã hội không nắm được những điều mà pháp luật quy định. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền là giáo dục công dân nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và tôn trọng những quy tắc của cuộc sống XHCN.
Việc áp dụng BPNC trong TTHS cũng góp phần đạt được điều này. Các yếu tố tác động đến việc quy định và áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo pháp luật tố tụng hình sự 1. Các yếu tố tác động đến quy định các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Trong hoạt động lập pháp, các quy định về các BPNC được quy định trong khá nhiều văn bản khác nhau của Nhà nước ta. Đây là một vấn đề lớn, rất quan trọng nhưng cũng rất phức tạp bởi vì nó liên quan trực tiếp đến sinh mạng chính trị của con người.