Nghiên cứu biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn ven biển tỉnh Thanh Hóa

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật cải thiện kết quả sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn ven biển, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu

Chuyên ngành

Khoa Học Cây Trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

227
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

1.2. Biến đổi khí hậu, tình hình xâm nhập mặn trên thế giới và Việt Nam

1.3. Đất nhiễm mặn và các vùng nhiễm mặn

1.4. Sự hình thành, phân loại và đặc tính của đất mặn

1.5. Ảnh hưởng của mặn đến sinh trưởng và phát triển của cây lúa

1.6. Ảnh hưởng của mặn đến đặc điểm hình thái của cây lúa

1.7. Ảnh hưởng của mặn đến đặc tính sinh lý, sinh hóa của cây lúa

1.8. Sự thích nghi của cây lúa đối với điều kiện mặn

1.9. Ngưỡng chịu mặn của cây lúa

1.10. Sự hấp thu chọn lọc giữa các ion

1.11. Thời vụ trồng và cơ sở khoa học của thời vụ trồng lúa

1.12. Dinh dưỡng đối với cây lúa

1.13. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.14. Tình hình xâm nhập mặn ở vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

1.15. Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất lúa ở các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa

1.16. Tình hình sử dụng giống lúa chịu mặn ở Việt Nam và vùng nhiễm mặn ven biển tỉnh Thanh Hóa

1.17. Thời vụ trồng lúa chịu mặn ở Việt Nam và các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa

1.18. Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam và các huyện ven biển tỉnh Thanh Hóa

1.19. Nhận xét rút ra từ tổng quan tài liệu

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu và nội dung nghiên cứu

2.2. Các loại phân bón và vật tư

2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.3.1. Địa điểm nghiên cứu

2.3.2. Thời gian nghiên cứu

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.5.1. Đánh giá hiện trạng sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn tại vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

2.5.2. Nghiên cứu tuyển chọn giống lúa chịu mặn cho vùng đất nhiễm mặn tại vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

2.5.3. Nghiên cứu xác định một số biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống lúa tuyển chọn được

2.5.4. Xây dựng mô hình canh tác áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thích hợp cho giống lúa tuyển chọn (SHPT15) trên vùng đất nhiễm mặn các huyện vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

2.5.5. Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu về cây trồng

2.5.6. Đánh giá tình hình sâu bệnh hại

2.5.7. Phương pháp phân tích độ mặn và các chỉ tiêu hóa tính của đất

2.5.8. Phương pháp đánh giá các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế

2.5.9. Xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Điều kiện cơ bản của các huyện vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa trong mối quan hệ với sản xuất lúa

3.2. Điều kiện tự nhiên tại các vùng bị nhiễm mặn tỉnh Thanh Hóa

3.3. Về cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa

3.4. Cơ cấu giống lúa và thời vụ sản xuất tại vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

3.5. Kết quả nghiên cứu tuyển chọn dòng/giống lúa chịu mặn thích hợp cho đất nhiễm mặn vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

3.6. Đặc điểm nông sinh học, yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số dòng lúa chịu mặn

3.7. Đánh giá tính ổn định về năng suất của các dòng/giống lúa thí nghiệm tại vùng đất nhiễm mặn một số huyện vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

3.8. Kết quả đánh giá khả năng chịu mặn trong điều kiện nhân tạo của một số dòng/giống lúa chịu mặn triển vọng

3.9. Nghiên cứu xác định một số biện pháp kỹ thuật phù hợp cho giống lúa chịu mặn đã tuyển chọn

3.10. Nghiên cứu ảnh hưởng thời vụ gieo trồng đến sinh trưởng và phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất giống lúa SHPT15

3.11. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, phân bón đến sinh trưởng và phát triển, các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa SHPT15

3.12. Xây dựng mô hình áp dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật cho giống lúa SHPT5 trên đất nhiễm mặn vùng ven biển tỉnh Thanh Hóa

3.13. Kết quả xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa SHPT15 tại Nga Sơn

3.14. Kết quả xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa SHPT15 tại Quảng Xương

3.15. Kết quả xây dựng mô hình sản xuất thử nghiệm giống lúa SHPT15 tại Hoằng Hóa

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Một số hình ảnh của luận án

PHỤ LỤC 2: Nguồn gốc các dòng/giống lúa tham gia thí nghiệm

PHỤ LỤC 3: Kết quả phân tích mẫu đất tại xã Quảng Nham (QX), Hoằng Trường (HH) và xã Nga Thái (NS), tháng 7-8 năm 2017

PHỤ LỤC 4: Phương pháp và chỉ tiêu đánh giá sâu bênh

PHỤ LỤC 5: Phiếu điều tra nông hộ

PHỤ LỤC 6: Phương pháp đánh giá chỉ tiêu chất lượng thương phẩm

PHỤ LỤC 7: Phương pháp đánh giá chất lượng sử dụng của các giống lúa

PHỤ LỤC 8: PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU ĐẤT VÀ PHÂN TÍCH ĐẤT

PHỤ LỤC 9: Bản hướng dẫn quy trình sản xuất lúa chịu mặn cho đất nhiễm mặn vùng ven biển tỉnh thanh hóa

PHỤ LỤC 10: Xử lý số liệu thống kê

Tóm tắt

I. Tình hình sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn tại Thanh Hóa

Tình hình sản xuất lúa tại Thanh Hóa đang gặp nhiều khó khăn do tình trạng nhiễm mặn ngày càng gia tăng. Theo thống kê, diện tích đất nhiễm mặn tại tỉnh này đã lên tới khoảng 22.000 ha, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và sản lượng lúa. Việc lựa chọn giống lúa phù hợp, đặc biệt là giống lúa chịu mặn, là rất cần thiết để nâng cao năng suất lúa. Các giống lúa hiện tại như BC15, Khang dân 18 không đáp ứng được yêu cầu sản xuất trong điều kiện đất nhiễm mặn. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển giống lúa mới có khả năng chịu mặn là một trong những giải pháp quan trọng nhằm cải thiện tình hình sản xuất lúa tại đây.

1.1. Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến sản xuất lúa

Xâm nhập mặn không chỉ làm giảm năng suất lúa mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Các nghiên cứu cho thấy, khi độ mặn trong đất tăng lên, khả năng hấp thụ nước và dinh dưỡng của cây lúa bị suy giảm, dẫn đến tình trạng cây còi cọc, năng suất thấp. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật như phân bón cho lúa trên đất mặncanh tác lúa trên đất mặn là cần thiết để cải thiện tình hình này. Các biện pháp này bao gồm việc sử dụng giống lúa chịu mặn, điều chỉnh thời vụ gieo trồng và áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến.

II. Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa

Để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn, cần thực hiện một số giải pháp đồng bộ. Trước hết, việc tuyển chọn giống lúa chịu mặn là rất quan trọng. Giống lúa SHPT15 đã được chứng minh có khả năng chịu mặn tốt và cho năng suất cao hơn so với các giống lúa truyền thống. Bên cạnh đó, việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến như điều chỉnh mật độ cấy, thời vụ gieo trồng và sử dụng phân bón hợp lý cũng góp phần nâng cao năng suất. Cụ thể, thời vụ gieo mạ và cấy cần được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện khí hậu và độ mặn của đất.

2.1. Mô hình sản xuất lúa hiệu quả

Xây dựng mô hình sản xuất lúa hiệu quả trên đất nhiễm mặn là một trong những giải pháp quan trọng. Mô hình này cần bao gồm việc áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật như phòng trừ sâu bệnh hại lúa, sử dụng phân bón hợp lý và điều chỉnh thời vụ gieo trồng. Việc áp dụng mô hình này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn đảm bảo an ninh lương thực cho khu vực ven biển Thanh Hóa. Các nghiên cứu cho thấy, mô hình sản xuất lúa SHPT15 có thể đạt năng suất từ 55 đến 57 tạ/ha, cao hơn so với các giống lúa khác.

III. Đánh giá hiệu quả kinh tế

Đánh giá hiệu quả kinh tế của các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn là rất cần thiết. Các nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng giống lúa chịu mặn SHPT15 không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn mang lại lợi nhuận cao hơn cho nông dân. Việc sử dụng phân bón hợp lý và áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến cũng góp phần giảm chi phí sản xuất. Điều này không chỉ giúp cải thiện đời sống của nông dân mà còn góp phần phát triển bền vững nông nghiệp tại Thanh Hóa.

3.1. Tính khả thi của các giải pháp

Tính khả thi của các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn cần được đánh giá kỹ lưỡng. Các giải pháp như quản lý nước tưới, sử dụng giống lúa chịu mặn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến đều có thể thực hiện được trong thực tế. Tuy nhiên, cần có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương và các tổ chức nghiên cứu để đảm bảo rằng nông dân có đủ thông tin và nguồn lực để áp dụng các giải pháp này một cách hiệu quả.

01/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Biến đổi khí hậu, tình hình xâm nhập mặn trên thế giới và Việt Nam Biến đổi khí hậu hiện nay có tác động nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, đời sống và môi trường không chỉ của một quốc gia hay là một khu vực mà trên phạm vi toàn thế giới. Trong những năm gần đây trên thế giới nhiệt độ có xu hướng tăng, nước biển dâng cao gây ngập lụt, nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng tới nền nông nghiệp, gây rủi ro lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp, các hệ thống kinh tế- xã hội [5], [19], [24], [27].

Xâm nhập mặn làm giảm diện tích tưới của thế giới khoảng 1- 2% mỗi năm, trên thế giới có khoảng 43 quốc gia (chủ yếu là từ các vùng khô hạn và bán khô hạn), đang phải sử dụng nước mặn ở các mức độ khác nhau để tưới thông qua các hệ thống thuỷ lợi [15]. Xâm nhập mặn được đánh giá là nguyên nhân lớn thứ hai gây ảnh hưởng đến diện tích đất sản xuất và có thể đe dọa lên đến 10% sản lượng ngũ cốc toàn cầu. Đây là thách thức lớn đối với sản xuất lúa gạo. Phần lớn lúa gạo mà thế giới sử dụng được sản xuất ở các vùng thấp hoặc vùng đồng bằng ở các nước như Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ… Những khu vực này thường có nguy cơ ngập lụt và bị xâm nhập mặn cao khi mực nước biển dâng cao, điều này cho thấy sự cần thiết của việc tìm kiếm sử dụng các giống lúa có khả năng chịu ngập và chịu mặn tại các vùng nhiễm mặn hoặc có nguy cơ nhiễm mặn [8].

Trên toàn thế giới, FAO ước tính có khoảng 34 triệu ha (khoảng11%) diện tích tưới tiêu bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn ở các mức độ khác nhau. Trong đó Pakistan, Trung Quốc, Hoa Kỳ và Ấn Độ có gần 22 triệu ha, chiếm hơn 64% diện tích canh tác bị ảnh hưởng mặn. Tại Australia khoảng16% diện tích nông 5 nghiệp bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và khoảng 67% diện tích có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn khi nước biển dâng. Ở vùng Trung Đông, FAO ước tính có khoảng 8% của diện tích đất bị suy thoái bởi xâm nhập mặn và khoảng 29% diện tích tưới có vấn đề về độ mặn.

Ở châu Mỹ, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 40% diện tích đất trồng trên bờ biển phía bắc Peru. Ở châu Âu, xâm nhập mặn ảnh hưởng đến 25% diện tích đất tưới tiêu ở Địa Trung Hải. Khu vực Nam Á, vùng đồng bằng sông Indus của Pakistan có khoảng 2 triệu ha bị ảnh hưởng của mặn [52]. Báo cáo tình trạng môi trường biển của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc cho thấy hiện nay, có gần 40% dân số thế giới sống tại các vùng ven biển và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Do các tầng nước ngầm ven đại dương ngày càng bị mặn xâm nhập, nhu cầu sử dụng nước ngày càng nhiều nên nguồn nước ngọt trở nên khan hiếm, đồng thời gia tăng các chi phí để khử mặn. Ở Nam Phi, nếu nhiệt độ tăng thêm dưới 4 0C, lượng mưa hàng năm dự kiến giảm đến 30% và khu vực Tây Phi lượng nước ngầm sẽ suy giảm từ 50- 70% [55]. Xâm nhập mặn ảnh hưởng lớn đến Đông Nam Á, khu vực có nhiều nơi thấp trũng, có đến 54% dân số sống ven bờ biển trong vòng bán kính 30 km, dễ bị tổn thương trước các hiện tượng nước biển dâng và sự gia tăng cường độ của bão nhiệt đới. Vùng đồng bằng của 3 con sông lớn là sông Mê Kông, sông Irrawaddy và sông Chao Phraya đều có những khu vực quan trọng nằm thấp hơn mực nước biển 2 m, sẽ là nơi chịu nhiều thiệt hại do ngập úng và xâm nhập mặn khi mực nước biển dâng được dự báo là cao hơn so với toàn cầu 10- 15% Tại khu vực sông Mahaka, Inđônêxia, Ngân hàng thế giới dự báo khi nước biển dâng thêm 1m vào năm 2100, diện tích đất bị xâm mặn có thể sẽ tăng 7- 12% và tại đồng bằng sông Mê Kông, nước biển dâng thêm 30 cm có thể đến sớm vào năm 2040 sẽ tăng thêm 30% diện tích (1,3 triệu ha) bị ảnh hưởng so với 6 hiện tại, gây tổn thất khoảng 12% sản lượng mùa vụ.

Hiện nay, diện tích đất bị ảnh hưởng bởi mặn của Đông Nam Á chiếm gần 20% diện tích đất bị ảnh hưởng trên toàn thế giới [82]. Việt Nam có chiều dài bờ biển hơn 3.260 km với 28/ 63 tỉnh, thành phố có biển, là một trong những nước dễ bị tổn thương của biến đổi khí hậu. Do đường bờ biển dài và thấp, dễ bị tác động bởi bão nhiệt đới, lượng mưa lớn và hay thay đổi nên các vùng ven biển Việt Nam sẽ phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất do biến đổi khí hậu gây ra. Hiện tượng hạn hán, bão, lũ lụt, xói lở bờ biển và xâm nhập mặn sẽ xuất hiện thường xuyên hơn.

Dải ven biển thuộc vùng ĐBSH - sông Thái Bình và ĐBSCL là hai vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, có mật độ dân cư cao và tập trung, địa hình bằng phẳng và thấp. Trong những năm gần đây tại ĐBSCL nước mặn xâm nhập sớm và lâu hơn, lấn sâu vào nội đồng theo hệ thống sông kênh rạch với những diễn biến phức tạp [7], [29], [31]. Mực nước biển dâng sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản của các vùng ven biển Việt Nam và đã trở thành một trong những vấn đề nan giải tại nhiều địa phương ven biển. Đặc biệt khu vực ĐBSCL, ĐBSH có diện tích đất nhiễm mặn lớn.

Nước mặn xâm lấn vào sâu, các vùng nước ngọt giảm dẫn đến tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp trong vụ đông xuân, thiếu nước cho sinh hoạt và nuôi trồng thủy sản. Do đó, tình hình xâm nhập mặn ở các sông cũng diễn biến phức tạp theo thời gian, chưa tuân theo một quy luật nhất định. Độ mặn và mức độ xâm nhập mặn vào các sông phụ thuộc phần lớn vào thuỷ triều, độ mặn nước biển, chế độ thuỷ lực dòng chảy trong sông, quá trình khai thác nước ngầm nước mặt và địa hình lòng [24], [26], [46]. Các nhà khoa học chỉ ra rằng, khi nước biển dâng, tùy mức độ sẽ có những phần diện tích canh tác ở vùng ĐBSH, ĐBSCL và các đồng bằng duyên Hải khác sẽ bị ngập mặn.

Đây là những vựa lúa của cả nước nên ảnh hưởng rất 7 nhiều đến an ninh lương thực. Không những thế, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở các vùng khí hậu phía Bắc có thể tăng so với trung bình thời kỳ 1980- 1999 khoảng 3,1- 3,60 C; trong đó Tây Bắc là 3,30 C; Đông Bắc là 3,20 C; Đồng bằng Bắc Bộ là 3,10 C và vùng Bắc Trung Bộ là 3,60 C. Mức nhiệt độ tăng trung bình năm của các vùng khí hậu phía Nam là 2,40C; ở Nam Trung Bộ là 2,10 C; ở Tây Nguyên là 2,60 C. Kéo theo đó là lượng mưa tăng khoảng 9- 10% ở Tây Bắc, Đông Bắc; 10% ở Đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ; 4-5% ở Nam Trung Bộ và khoảng 2% ở Tây Nguyên, Nam Bộ.

Lượng mưa thời kỳ từ tháng 3 đến tháng 5 sẽ giảm 6- 9% ở Tây Bắc, Đông Bắc và đồng bằng Bắc Bộ; khoảng 13% ở Bắc Trung bộ. Lượng mưa vào giữa mùa khô ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ lại giảm khoảng 13- 22%. Lượng mưa các tháng cao điểm của mùa mưa tăng 12- 19% ở phía Bắc và Nam Trung Bộ, còn ở Tây Nguyên và Nam Bộ chỉ vào khoảng 1- 2%. Việt Nam là một trong những nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi mực nước biển dâng, dẫn đến sự xâm nhiễm mặn ngày càng gia tăng, chủ yếu là Đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long.

Mặn là hiện tượng liên kết với nước biển dâng mang nước mặn tiến sâu vào đất liền, biến nhiều vùng đất trồng lúa bị mặn hóa [36], [37]. Đất nhiễm mặn và các vùng nhiễm mặn Đất nhiễm mặn là loại đất có chứa nhiều cation Na+ hấp phụ trên bề mặt keo đất và trong dung dịch đất. Sự hình thành đất nhiễm mặn do 2 nguyên nhân chủ yếu là ảnh hưởng của nước ngầm hay do ảnh hưởng của nước biển mặn theo thủy triều tràn vào. Hạn chế của đất nhiễm mặn: - Đất có thành phần cơ giới nặng.

Tỉ lệ sét từ 50- 60%. Đất chặt, thấm nước kém. Không bị ướt, dẻo dính. Khi bị khô đất co lại, nứt nẻ, rắn chắc, khó làm đất.

- Đất chứa nhiều Na+ dưới dạng muối tan NaCl, Na2SO4 nên áp suất thẩm 8 thấu dung dịch đất lớn làm ảnh hưởng tới quá trình hút nước và dinh dưỡng cây trồng. - Đất có phản ứng trung tính hoặc hơi kiềm. - Hoạt động của vi sinh vật yếu. Ở Việt Nam, các vùng nhiễm mặn tập trung chủ yếu ở 2 vùng châu thổ lớn là ĐBSH và ĐBSCL.

Ảnh hưởng của nước biển ở vùng cửa sông vào đất liền ở ĐBSH chỉ khoảng 15 km, nhưng ở vùng ĐBSCL lại có thể xâm nhập tới 40- 50 km [19], [64] và [66]. Các vùng lúa nhiễm mặn ở ĐBSH thuộc các tỉnh như: Thái Bình, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình,… Vùng ven biển thuộc Hải Phòng bị nhiễm mặn khoảng 20.000 ha ở cả hai dạng nhiễm mặn tiềm tàng và nhiễm mặn xâm nhiễm từ 0,3-0,5%. Tỉnh Thái Bình có khoảng 18.000 ha nhiễm mặn. Tỉnh Nam Định có khoảng 10.000 ha và tỉnh Thanh Hóa cũng có khoảng 22.000 ha đất nhiễm mặn.

Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 1,8- 2,1 triệu ha đất tự nhiên chịu ảnh hưởng mặn tập trung ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre, Kiên Giang, Tiền Giang, Trà Vinh và Sóc Trăng, phần lớn là đất bị nhiễm mặn kết hợp với phèn, ngập nước [26]. Theo kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất [7] dự báo khoảng 7.600 km2 (tương đương 20% diện tích) ĐBSCL sẽ chìm khi nước biển dâng 75 cm và ở mức 100 cm thì phạm vi ngập trải rộng trên diện tích 15.116 km2, tương đương 37,8% diện tích tự nhiên toàn vùng. Dự báo vào năm 2030, khoảng 45% đất của ĐBSCL có nguy cơ nhiễm mặn cục bộ. Nhiễm mặn gây hại rất lớn cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa, trung bình năng suất lúa có thể giảm 20- 25%, thậm chí tới 50%, ảnh hưởng nghiêm trọng đến canh tác 3 vụ, sản lượng lương thực bị mất đi đáng kể, đe dọa an ninh lương thực quốc gia [21], [26].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất lúa trên đất nhiễm mặn tại Thanh Hóa" cung cấp những giải pháp thiết thực nhằm cải thiện năng suất lúa trong điều kiện đất nhiễm mặn, một vấn đề ngày càng nghiêm trọng tại nhiều vùng nông thôn Việt Nam. Tác giả phân tích các phương pháp canh tác, lựa chọn giống lúa phù hợp và áp dụng kỹ thuật tưới tiêu hiệu quả, từ đó giúp nông dân tối ưu hóa sản xuất và tăng thu nhập. Những thông tin này không chỉ hữu ích cho người nông dân mà còn cho các nhà nghiên cứu và quản lý trong lĩnh vực nông nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về các mô hình sản xuất nông nghiệp khác, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu sử dụng phù sa và vi tảo để cải thiện môi trường đất lúa thâm canh vùng đê bao khép kín tỉnh an giang", nơi đề cập đến việc cải thiện chất lượng đất lúa. Ngoài ra, bài viết "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống và trồng rau đắng đất glinus oppositifolius l dc tại đồng bằng sông hồng" cũng sẽ mang đến cho bạn những kiến thức bổ ích về kỹ thuật trồng trọt. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Nghiên cứu cải tiến hệ thống trồng trọt theo hướng sản xuất hàng hóa tại huyện quỳnh phụ tỉnh thái bình luận án tiến sĩ", giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các phương pháp sản xuất nông nghiệp hiện đại.