LỜI MỞ ĐẦU Nền kinh tế thị trường đã và đang tạo ra tiền đề quan trọng cho các thành phần kinh tế phát triển đồng thời đòi hỏi các nhà quản lý, các doanh nghiệp phải năng động, sáng tạo và nhanh chóng hoà nhập vào cuộc cạnh tranh trên thị trường do sự chi phối mạnh mẽ các quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Đóng góp một phần rất quan trọng nhằm tạo ra sự thành công cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường đó chính là con người. Bất kỳ công ty hay tổ chức nào dù có nguồn tài chính dồi dào, hệ thống máy móc hiện đại, nguyên nhiên vật liệu luôn đảm bảo đi nữa cũng vô ích nếu không biết quản trị nguồn nhân lực. Ngày nay, với xu thế toàn cầu hoá và tính chất cạnh tranh khốc liệt, con người đang được coi là nguồn tài sản vô giá và là yếu tố cơ bản nhất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Cũng như các tài sản khác, tài sản con người cần được mở rộng và phát triển, cần nhất là sử dụng và quản lý cho tốt. Việc hiểu và tổ chức tốt nội dung quản lý nhân lực là điều hết sức cần thiết trong tình hình hiện nay, đặc biệt trong các doanh nghiệp - nơi mà hiệu quả quản lý đang được đặt ra hết sức bức xúc. Để tiếp tục đứng vững trong môi trường cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình đội ngũ cán bộ công nhân riêng, có năng lực, có phẩm chất có khả năng lãnh đạo công ty và đào tạo cán bộ công nhân lành nghề để theo kịp với tiến bộ và trình độ khoa học - kỹ thuật của thế giới. Nhằm tạo cho mình chỗ đứng ở hiện tại cũng như ở tương lai, công ty cổ phần thương mại và đầu tư An Thắng cũng không nằm ngoài quy luật này.
Trong thời gian thực tập tại công ty, em đã dược tìm hiểu về ngành nghề kinh doanh, mô hình tổ chức, về các sản phẩm, tình hình nhân sự, các chính sách marketing của công ty…. Xuất phát từ vai trò và thực trạng của công tác quản trị nguồn nhân lực của công ty, em xin chọn đề tài: "một số biện pháp nâng cao Sinh viªn: Lª Thu HiÒn 1 Mét sè biÖn ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vµ qu¶n nguån nh©n lùc hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tư & thương mại An Thắng" làm đề tài khoá luận của mình. Nội dung của đề tài bao gồm các phần sau: PHẦN I: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, quản lý nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực. PHẦN II: Phân tích thực trạng nguồn nhân lực và quản lý nhân lực tại công ty cổ phần đầu tƣ & thƣơng mại An Thắng PHẦN III: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý nguồn nhân lực tại công ty cổ phần đầu tƣ & thƣơng mại An Thắng Do trình độ hiểu biết và kinh nghiệm của bản thân cũng như phạm vi của đề tài còn hạn chế.
Vì vậy koá luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của TS. Lã Văn Bạt, tập thể các thầy cô giáo bộ môn Quản trị kinh doanh trường Đại học Dân Lập Hải Phòng cùng các cô chú, anh chị cán bộ công nhân viên của công ty cổ phần đầu tư & thương mại An Thắng. Hải Phòng, ngày 30 tháng 6 năm 2010 Sinh viên LÊ THU HIỀN Sinh viªn: Lª Thu HiÒn 2 Mét sè biÖn ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vµ qu¶n nguån nh©n lùc PHẦN I Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, quản lý nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực.
Sinh viªn: Lª Thu HiÒn 3 Mét sè biÖn ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vµ qu¶n nguån nh©n lùc 1. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Thuật ngữ "nguồn nhân lực" xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỉ XX. Khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.
Nếu như trước đây phương thức quản lý nhân viên với các đặc trưng coi nhân viên là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu, thì từ những năm 80 đến nay với phương thức mới, quản lý nguồn nhân lực với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích luỹ tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Có thể nói sự xuất hiện của thuật nhữ "nguồn nhân lực" là một biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phương thức quản lý mới đối với phương thức quản lý trong việc sử dụng nguồn lực con người. Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, cũng như của mỗi quốc gia. Đứng trên các giác độ khác nhau, khi nghiên cứu nguồn nhân lực, các học giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau cho phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Trong báo cáo Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với nguồn nhân lực đã đưa ra khái niệm "nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người". Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng nguồn nhân lực.[3] "Nguồn nhân lực hay nguồn lực lao động bao gồm số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động ( trừ những người tàn tật, mất sức lao động loại nặng) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế đang làm việc".[3] Nguồn nhân lực là nguồn lực của con người gồm có thể lực, trí lực. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ số lao động mà doanh Sinh viªn: Lª Thu HiÒn 4 Mét sè biÖn ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vµ qu¶n nguån nh©n lùc nghiệp có và có thể huy động toàn bộ thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân với vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp ở bản chất con người. Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995). Nguồn nhân lực, theo GS. Phạm Minh Hạc (2001), là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó.
Có rất nhiều các khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, nhưng suy cho cùng nguồn nhân lực nói nên khả năng lao động của xã hội. Đó là yêu tố then chốt trong phát triển chiến lược của mỗi doanh nghiệp. Vai trò nguồn nhân lực: Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam ta đang trên đường phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Để phát triển kinh tế thì chúng ta cần phát huy và tận dụng rất nhiều nguồn lực như: nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực, vốn đầu tư, khoa học kỹ thuật – công nghệ (KHKT–CN) tiên tiến hiện đại… Cùng với KHKT–CN và nguồn vốn thì nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến sự thành công của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội ở nước ta.
Giáo dục - đào tạo là cơ sở phát triển nguồn nhân lực, là con đường cơ bản để phát huy nguồn nhân lực. Do vậy các doanh nghiệp nên chú trọng trong việc đào tạo và không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là vân đề quan tâm hàng đầu. Mọi hoạt động sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội đều do con người tạo nên. họ phát minh, sáng chế ra các loại tư liệu lao động khác nhau, càng Sinh viªn: Lª Thu HiÒn 5 Mét sè biÖn ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶ sö dông vµ qu¶n nguån nh©n lùc ngày càng tiến bộ hơn nhằm mục đích đem lại hiểu quả cao trong công việc.
Để không ngừng đáp ứng những nhu cầu về vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao về số lượng và chất lượng trong điều kiện các nguồn lực khác đều có hạn, con người ngày càng phải phát huy đầy đủ hơn khả năng về mặt thể lực và trí lực cho việc phát triển không ngừng của xã hội.3 Các đặc trƣng cơ bản của nguồn nhân lực 1.1 Số lượng nguồn nhân lực Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai. Đấy là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân. Từ cuộc Tổng điều tra dân số đầu tiên sau khi nước nhà thống nhất (1975) đến nay, "bức tranh dân số" nước ta đã thay đổi nhanh chóng.
Quy mô dân số đã tăng từ 52,742 triệu năm 1979 lên 85,155 triệu năm 2007; cơ cấu dân số cũng thay đổi mạnh, đặc biệt là cơ cấu dân số theo nhóm tuổi; tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động tăng từ 51% lên 65%. Tương ứng, tỷ lệ những người ngoài độ tuổi lao động giảm từ 49% xuống còn 35%. [3] Sự phát triển của đất nước, trước hết phụ thuộc chặt chẽ vào nguồn lao động, cả số lượng và chất lượng. Để nghiên cứu nguồn lao động có thể xét các nhóm dân số “trong độ tuổi lao động” và “ngoài độ tuổi lao động”, như: (0-14); (15- 59) và nhóm 60 tuổi trở lên.Người ta thường tính tỷ lệ dân số của các nhóm tuổi nói trên trong tổng dân số.