Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài - Đốn tỉa cành, ngọn cho cây trồng có vai trò rất quan trọng, vì có ảnh hưởng đến năng suất của cây. Mục đích của việc đốn tỉa cành là tạo cho cây có hình dáng đều đặn, chắc chắn, thông thoáng, hưởng được nhiều ánh sáng, loại bỏ được các cành bị sâu bệnh, cành bị khô chết và các cành vô hiệu; đồng thời đốn tỉa ngọn cũng giúp cho quá trình chăm sóc, thu hoạch thuận lợi hơn. Nếu không đốn tỉa ngọn thì cây na sẽ mọc cao, dẫn đến khó khăn trong việc chăm sóc như: phải leo trèo lên cây để thụ phấn bổ sung, vặt bớt quả vẹo, thu hoạch na.; nếu không đốn tỉa cành thì các cành, các tược sẽ mọc dầy, làm cho lòng tán cây bị thiếu ánh sáng, các chồi non không phát triển được, sau vài năm cây na chỉ cho quả ở phía trên và phía ngoài tán nơi có ánh sáng, còn trong lòng tán thì không.
Như vậy, việc đốn tỉa các cành, ngọn là rất cần thiết để lòng, tán cây được thông thoáng, có đầy đủ ánh sáng, kích thích các chồi cho trái phát triển nên sẽ cho năng suất cao hơn. Tuy nhiên, chúng ta chưa biết đốn tỉa vào thời điểm nào thì phù hợp và phương pháp đốn tỉa như thế nào thì cho năng suất, chất lượng cao nhất. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thời gian đốn tỉa và phương pháp ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng na tại Võ Nhai - Thái Nguyên. - Cây na ra rất nhiều hoa; na thụ phấn chéo vì hoa đực và hoa cái thường nở lệch pha nhau trên cùng một cây.
Hoa cái có khả năng nhận hạt phấn 1 - 2 ngày trước khi hoa đực tung phấn nên rất khó tự thụ phấn; nếu có tự thụ phấn được thường là nhờ gió hoặc côn trùng nên tỷ lệ đậu quả thấp, nhiều quả có tỷ lệ múi lép cao do thụ phấn không hoàn toàn. Do vậy, thụ phấn bổ sung bằng tay cho na là rất cần thiết để góp phần nâng cao tỷ lệ đậu quả từ đó nâng cao năng suất na. Tuy nhiên chúng ta chưa biết lấy phấn ở thời điểm nào để thụ phấn bổ sung cho na thì sẽ cho năng suất và chất lượng cao nhất. Vì vậy, h 4 chúng tôi tiến hành nghiên cứu về thời điểm lấy phấn để thụ phấn bổ sung cho na ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng na tại tại huyện Võ Nhai.
- Lợi thế của bao quả là: hạn chế và ngăn ngừa quả không bị nhiễm bệnh; ngăn ngừa quả không bị thiệt hại do chim và côn trùng (như ruồi đục quả); không bị nhiễm các chất gây hại trong không khí và mưa axit; không bị tác động tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời làm rám bề mặt quả; không bị cọ sát. Sản xuất quả hữu cơ bằng cách giảm số lần, liều lượng phun hoá chất và giảm tồn dư hoá chất trên quả bằng cách tránh quả tiếp xúc với hoá chất; cải thiện màu sắc và bề ngoài của quả bằng cách cải thiện môi trường sinh trưởng của chúng. Với những tác dụng trên của bao quả, thụ phấn và cắt tỉa chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này với mục đích hoàn thiện quy trình thâm canh sản xuất na theo hướng hàng hóa. Tăng chất lượng, năng suất cũng như tuổi thọ cây na dai tại Võ Nhai- Thái Nguyên.
Nguồn gốc và phân bố của cây na Cây na được coi là có nguồn gốc phát sinh từ vùng nhiệt đới châu Mỹ. Từ thế kỷ 16, các cây họ Na đã được nhập vào nhiều nước nhiệt đới khác và do tính thích nghi rộng hiện nay na được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Nguồn gốc bản địa chính xác của loại cây này chưa rõ do hiện nay nó được trồng khắp nơi nhưng các nhà thực vật học cho rằng nó là cây bản địa của các nước thuộc Trung và Nam Mĩ. Song trồng với quy mô lớn tập trung ở châu Á và chỉ phổ biến ở các nước nằm trong vĩ độ 20o Bắc - 30o Nam có khí hậu tương đối ẩm và khô nóng như: Thái Lan, Campuchia, Malaysia… và rất ít ở Nam Trung Quốc.
Ở Việt Nam, na dai được trồng rộng rãi cả ngoài Bắc và trong Nam, còn na xiêm chỉ trồng trong Nam, ở miền Bắc chỉ mới trồng thí nghiệm. Ở nước ta nay có một số vùng trồng na khá tập trung có tiếng trong nước như: na La Hiên ở Võ Nhai, na dai Huyền Sơn ở Bắc Giang…Cả trên h 5 thế giới và trong nước chỉ trồng vài cây trong vườn, ăn quả không phải là mục đích chính; còn bình bát là cây mọc bán hoang dại[7]. Phân loại và các giống na hiện nay đang trồng Cây na thuộc chi Na (Annona), họ na (Annonaceae). Chi na có nhiều loài, ở Việt Nam có bốn loài là Na dai (Annona Squamosa), Na xiêm (Annona Muricata), Nê (Annona reticulata), Bình bát (Annona glabra).
Trong đó chỉ có na dai, na xiêm được trồng tập trung với mục đích kinh doanh, còn nê thì trồng lẻ tẻ vài cây trong vườn, vì quả ăn được nhưng chất lượng kém. Bình bát cũng ăn được quả nhưng chất lượng còn kém hơn nữa, chủ yếu là cây mọc dại[7]. Phân loại theo yêu cầu sinh thái: - A. squamosa (na, mãng cầu ta): Khá chịu lạnh, cần khô và được trồng khá phổ biến ở các nước nhiệt đới ở độ cao 300 – 500 m so với mặt nước biển.
muricata (mãng cầu xiêm): Ưa nhiệt, ẩm nên chỉ trồng được ở các vùng nhiệt đới có nhiệt độ, độ ẩm cao. glabra (bình bát): Chịu mặn, ánh sáng nên được trồng ở vùng duyên hải nhiệt đới để làm cây chắn sóng, giữ đất hoặc làm gốc ghép, chọn tạo giống. reticulata (nê): Được trồng ở vùng nhiệt đới có nhiệt độ không cao nhưng ẩm. được trồng để làm vật liệu tạo giống.
Nhiều vùng còn gọi nê là na núi vì nó trồng ở vùng nhiệt đới cao. Tên gọi Mãng cầu hay Annona ở nước ta có sự khác nhau. Ở miền Bắc gọi Annona Squamosa là na, gồm 2 loại là na dai và na bở, gọi Annona Muricata là mãng cầu, Annona glabra là bình bát, Annona reticulata là nê. Ở miền Nam chỉ khác là gọi Annona Squamosa là mãng cầu dai và gọi Annona Muricata là mãng cầu xiêm [1].
Vị trí của cây na trong hệ thống phân loại thực vật: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Magnoliales h 6 Họ: Anonaceae Chi: Anona Loài: A. Squamosa Tên khoa học: Anona squamosa [6], [7]. Hiện nay có khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở châu Phi, và các loài khác ở châu Á [6]. Cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu thật đầy đủ về giống na ở Việt Nam.
Việc phân định các giống na thường dựa vào màu vỏ và độ chắc của cùi quả. Với mãng cầu xiêm (A. muricata) ở miền Nam thường phân ra các giống sau: + Mãng cầu xanh: loại mãng cầu màu xanh, lá và quả đều màu xanh, khi quả chín vỏ quả có màu xanh nhạt. + Mãng cầu nâu: loại mãng cầu màu nâu, lá xanh đậm quả màu nâu.
+ Mãng cầu vàng: là loại mãng cầu mà lá và quả có màu vàng nhạt. Ở các tỉnh miền Bắc người ta phân biệt na (A. squamosa) thành hai loại: Na dai và na bở dựa vào độ bở của cùi quả. + Na dai: dễ tách bóc khỏi thịt quả, ít hạt nhiều thịt, thịt chắc, ngọt đậm và thơm ngon.
Hạt nhỏ và hạt dễ tách khỏi thịt quả. Xu hướng hiện nay của người làm vườn là thích trồng loại na dai vì bán được giá cao, quả sau hái cất giữ được lâu hơn so với na bở. + Na bở: thịt bở, khó bóc vỏ hơn so với na dai, quả thường hay nứt, ăn ngọt song thịt quả không chắc. + Thành phần dinh dưỡng trong quả na: Na là cây nhiệt đới có giá trị dinh dưỡng cao, riêng na châu Mỹ là loại na thích hợp ở vùng cao và hiện không được trồng nhiều, chủ yếu dùng làm vật liệu nghiên cứu trong chọn tạo giống.
Nó là cây được đánh giá cao nhất về mặt chất lượng - ngang tầm với cây dứa. Tuy là cây nhỏ nhất nhưng na dai lại là cây quan trọng và trồng nhiều nhất trong các loại na và được đánh giá cao về h 7 mặt chất lượng chỉ sau mãng cầu xiêm, có hương thơm, vị đậm được nhiều người ưa thích vì độ ngọt cao, lại có hương thơm. Giàu sinh tố, giàu chất khoáng [4]. Chất lượng na so với hai loại trái xoài và chuối (Hàm lượng chất dinh dưỡng trong 100g phần ăn được, không tính vỏ, hạt, lõi) Hàm lượng chất dinh dưỡng Na dai Na xiêm Xoài Chuối sứ Giá trị Calo 78 59 62 100 Hàm lượng nước 77,5 83,2 82,6 71,6 Đạm protein (g/100g) 1,4 1,0 0,6 1,2 Chất béo (g/100g) 0,2 0,2 0,3 0,3 Gluxit (cả xenlulô) (g/100g) 20,0 15,1 15,9 26,1 Xenlulô (g/100g) 1,6 0,6 0,5 0,6 Tro (g/100g) 0,9 0,5 0,6 0,8 Canxi (mg/100 g) 30,0 14,0 10,0 12,0 Lân: P (mg/100g) 36,0 21,0 15,0 32,0 Sắt: Fe (mg/100g) 0,6 0,5 0,3 0,8 Natri: Na (mg/100g) 5,0 8,0 3,0 4,0 Kali: K (mg/100g) 299,0 293,0 214,0 401,0 Caroten (Vitamin A) (µg/100g) 5 vết 1.
Tình hình sản xuất na trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình sản xuất na trên thế giới Na là cây nhiệt đới, thích nghi rộng nên chúng được trồng trên toàn thế giới nhưng chỉ trồng lẻ tẻ trong các vườn, ít trồng tập trung để sản xuất hàng hoá. Trước đây, na được coi là loại quả thứ yếu, chưa trở thành một loại quả chính trên thị trường hoa quả thế giới. Hiện nay, nhu cầu thị trường ngày càng cao nên cây na đã được quan tâm và chú trọng hơn.
Tuy nhiên trên thế giới h 8 hiện nay vẫn không có số liệu thống kê cụ thể về na. Những nước đánh giá na dai rất cao là Ấn Độ, CuBa, Brazil. Năm 1986 - 1987, chỉ riêng ở Thái Lan đã trồng được 51,500 ha, sản lượng 188,900 tấn. Ở Ấn Độ diện tích trồng na cũng đạt tới 44,613 ha [1], [6].
Na xiêm trồng ít hơn do khẩu vị con người và do chúng yêu cầu khí hậu nóng hơn na dai, không trồng được ở các vĩ tuyến hơi cao một chút. Tình hình sản xuất na tại Việt Nam Những năm gần đây na được coi là CAQ đặc sản có giá trị kinh tế cao. Vùng phân bố của cây na ở nước ta khá rộng, trừ những nơi có mùa đông lạnh hay sương muối là không trồng được còn hầu hết các tỉnh đều có thể trồng na. Ở nước ta na được trồng từ lâu nhưng mới được chú trọng, phát triển mạnh từ năm 1990 trở lại đây.