Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài - Chương 2: Những chiều cạnh biến đổi sinh hoạt cộng đồng xã hội trong thời kỳ Đổi mới - Chương 3: Các nhân tố tạo nên sự khác biệt trong việc tham gia các hoạt động cộng đồng xã hội trong thời kỳ Đổi mới 17 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm công cụ 1. Biến đổi xã hội Biến đổi là những thay đổi có thể diễn ra theo chiều hướng tiến bộ, nhưng có thể không diễn ra theo hướng tiến bộ mà lại suy thoái, thoái triển hoặc có thay đổi, song không phải là sự đi lên hay đi xuống mà có thể chỉ là sự mở rộng hoặc thu hẹp. Biến đổi xã hội luôn được các nhà nghiên cứu về xã hội, đặc biệt là các nhà xã hội học quan tâm.
Các nhà xã hội học kinh điển như Karl Marx, A. Durkhiem luôn coi biến đổi xã hội là vấn đề cơ bản của xã hội. Nếu không có sự biến đổi xã hội thì các xã hội sẽ luôn ở trạng thái gốc. Biến đổi xã hội là một quá trình xã hội về những thay đổi trong cơ cấu của một hệ thống xã hội.
Một cách hiểu rộng nhất về biến đổi xã hội cho đó là một sự thay đổi so sánh với một tình trạng xã hội hoặc một nếp sống có trước. Tuy nhiên có một khái niệm về biến đổi xã hội khá phổ biến và được nhiều người chấp nhận, đó là: “Biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian”[5] Biến đổi xã hội đề cập đến sự thay đổi trật tự trong một xã hội, đó có thể là sự chuyển hướng từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, hay xã hội chủ nghĩa. Nó cũng có thể được tạo ra bởi các cuộc cách mạng, các phong trào xã hội như phong trào đòi quyền bình đẳng trong bầu cử cho phụ nữ, phong trào đòi quyền dân chủ, và nó được thúc đẩy bởi văn hóa, tôn giáo, kinh tế hay khoa học - công nghệ. Sự biến đổi xã hội có thể diễn ra một cách tự nhiên, trong tự nhiên, hoặc trong các tổ chức xã hội, thậm chí ngay trong hành vi xã hội và quan hệ xã hội.
Trong đề tài này, chỉ xem xét sự biến đổi xã hội diễn ra trong lĩnh vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng của người dân khu vực nông thôn và đô thị. Xét ở mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng của người dân thay đổi theo thời gian và theo điều kiện sống, khu vực sống. Cộng đồng xã hội Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn. Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị.
Theo từ điển xã hội học của Harper Collins, cộng đồng được hiểu là “mọi phức hợp các quan hệ xã hội được tiến hành trong lĩnh vực kinh cụ thể, được xác định về mặt địa lý, hàng xóm hay những mối quan hệ mà không hoàn toàn về mặt cư trú, mà tồn tại ở một cấp độ trừu tượng hơn” Cộng đồng còn được hiểu là toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó với nhau thành một khối trong sinh hoạt xã hội [9]. Nếu hiểu theo nghĩa này thì cộng đồng được đề cập đến trong mẫu trở nên quá rộng, bởi lẽ những người cùng chung sống trong một khu dân cư sẽ gắn bó với nhau trong các sinh hoạt chung của khu dân cư đó, chưa có chứng cứ gì chắc chắn rằng họ hoàn toàn giống nhau về một điểm nào đó như: nghề nghiệp, nền văn hóa,… Cộng đồng xã hội được hiểu là một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cư trú [9]. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc. Như vậy, cộng đồng xã hội bao gồm một loạt yếu tố xã hội chung mang tính phổ quát: kinh tế, địa lí, ngôn ngữ, văn hoá, tín ngưỡng, tâm lí, lối sống, vv.
Khẳng định tính thống nhất của một cộng đồng xã hội trên một quy mô lớn, cũng đồng thời phải thừa nhận tính đa dạng và nhiều màu sắc của các cộng đồng xã hội trên những quy mô nhỏ hơn. 19 z Khái niệm cộng đồng xã hội trong đề tài này được hiểu là một nhóm người cùng chung sống trong một không gian địa lý, cùng gắn bó và chia sẻ với nhau trong cuộc sống thông qua những sinh hoạt chung tại nơi cư trú. Sinh hoạt cộng đồng - xã hội Sinh hoạt được hiểu một cách đơn giản đó là những hoạt động thuộc về đời sống hàng ngày của một người hay một cộng đồng người. Ngoài ra sinh hoạt còn được hiểu là lĩnh vực hoạt động ngoài sản xuất trong đời sống hằng ngày, gắn liền với sự thoả mãn những nhu cầu về vật chất và văn hoá của con người (ăn, mặc, ở, sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải trí, vv.
Phương thức sinh hoạt bao gồm toàn bộ những phương tiện, thói quen, nghi thức, hợp thành lối sống, do phương thức sản xuất quyết định. Trong xã hội có giai cấp, lối sống của mỗi người phụ thuộc vào địa vị giai cấp của người đó. Lối sống trong xã hội mang dấu ấn sâu sắc của sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, địa vị bất bình đẳng của phụ nữ, của đặc điểm dân tộc, tôn giáo, cũng như tính chất nền văn hoá của xã hội. Lối sống thay đổi tuỳ theo sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và nền văn hoá của xã hội.
Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, sinh hoạt của người lao động là đối tượng quan tâm của nhà nước, lối sống của nhân dân được cải thiện đồng thời với việc nâng cao trình độ sản xuất vật chất và trình độ văn hoá của xã hội. [28] Sinh hoạt cộng đồng - xã hội được hiểu là những hoạt động thuộc về đời sống hàng ngày của một cộng đồng người, bao gồm những hoạt động chia sẻ các giá trị sống, các hoạt động văn hóa. Trong đề tài này, khái niệm sinh hoạt cộng đồng - xã hội và hoạt động sinh hoạt cộng đồng - xã hội được hiểu theo cùng một nghĩa, và các hoạt động thuộc về sinh hoạt cộng đồng được giới hạn lại bao gồm: họp tổ dân phố; đi họp tại ủy ban nhân dân; đi lễ đền, chùa; tham gia các tổ chức xã hội tự nguyện và các tổ chức xã hội chính thức; tham gia các hoạt động khác như: dự sinh nhật, lễ mừng thọ, tang ma, cưới hỏi trong và ngoài họ tộc. Nông thôn Mỗi một xã hội đều được chia thành hai phần là nông thôn và đô thị.
Mỗi nơi có những đặc điểm, lối sống khác nhau. Nông thôn thường được biết đến như là một 20 z khu vực xa trung tâm, nơi đó mật độ dân cư thưa thớt, mức sống ít phồn thịnh hơn so với đô thị, tính nông thôn đậm đặc trong lối sống. Cộng đồng dân cư ở đây cùng chung sống trên một vùng lãnh thổ, cùng chia sẻ những giá trị truyền thống chung. Nhân vật trung tâm của xã hội nông thôn là những người nông dân, họ sống và gắn bó cả đời với mảnh đất của mình.
Hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp gắn với tư liệu sản xuất là đất đai, ruộng vườn. Văn hóa xóm làng tạo nên một sự sẻ chia trong cộng đồng, mỗi khu vực nông thôn có tiểu văn hóa riêng. Cộng đồng đề cao tinh thần chung, lợi ích chung. Mỗi quốc gia có thể xây dựng cho mình những chỉ báo riêng để thừa nhận một khu vực được xem là khu vực nông thôn.
Ví dụ, ở Canada là dân số ít hơn 10.000 dân, ở Mỹ là 2.500 dân, ở Nhật Bản là 50.000 dân, Na Uy là 2.000 dân, còn ở Việt Nam là ít hơn 4.000 dân, trong đó dân cư chủ yếu sống bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp. Trong đề tài này, các huyện Yên Bình (Yên Bái); huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh); huyện Hòa Vang (Đà Nẵng); huyện Thanh Bình, huyện Hồng Ngự, huyện Tháp Mười (Đồng Tháp) sẽ đại diện cho khu vực nông thôn, để so sánh sự biến đổi trong hoạt động sinh hoạt cộng đồng giữa khu vực nông thôn và khu vực đô thị (Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh). Đô thị Xét theo nghĩa từ, đô là từ chỉ độ lớn, thị là từ dùng chỉ chợ, hay nơi có nhiều dân cư sinh sống bằng nghề buôn bán. Các đô thị tồn tại ở khắp mọi nơi, ở mỗi quốc gia.
Đa số mọi người biết rất rõ khi nào họ được coi là đang sống trong một đô thị, tuy nhiên đến hiện nay vẫn chưa có một sự thống nhất hoàn toàn rõ ràng giữa các quốc gia về khái niệm đô thị. Ví dụ, ở Mỹ, một khu cư trú được coi là đô thị khi số dân cư sống ở đó vào khoảng từ 2.500 người trở lên, đô thị ở Philippin phải có mật độ dân số tối thiểu là 1.000 người/km2, ở Cuba là 2.000 người cùng quần tụ quanh một điểm hạt nhân, trong khi đó ở Nhật Bản yêu cầu phải có ít nhất 50.000 người dân. Còn ở Nam Phi, tiêu chí để được xếp loại là đô thị lại không căn cứ vào số dân mà căn cứ vào chủng tộc dân cư. 21 z Ở Brazil thì tuyệt nhiên chỉ có thủ đô mới được xem là đô thị, tức là dựa trên tiêu chí chức năng chính trị.
Ở Việt Nam, theo Nghị định 42/2009/NĐ-CP của Chính phủ, điểm dân cư được coi là đô thị khi có số dân tối thiểu đạt từ 4.000 người trở lên, trong đó ít nhất 60% dân cư không làm nông nghiệp [17].