Phương pháp lặp Ishikawa đường dốc nhất cho Bất đẳng thức Biến phân trong không gian Banach
Phương pháp lặp Ishikawa đường dốc nhất giải bất đẳng thức biến phân trong không gian Banach. Tìm hiểu thuật toán, ứng dụng và hiệu quả của phương pháp.
Trường đại học
Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái NguyênChuyên ngành
Toán ứng dụngNgười đăng
Ẩn danhThể loại
Luận văn thạc sĩPhí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Bất đẳng thức biến phân Giới thiệu và tổng quan 55 ký tự
Bài toán bất đẳng thức biến phân (BĐTBP) ra đời từ những năm 1960, với mục tiêu tìm điểm p** ∈ E sao cho p** ∈ C : <Fp**, j(p** − p)> ≤ 0, ∀p ∈ C, trong đó j là ánh xạ đối ngẫu, C là tập con lồi đóng của E và F là ánh xạ j-đơn điệu mạnh và giả co chặt. Khi E là không gian Hilbert H, một phương pháp cơ bản để giải bài toán là xây dựng dãy lặp: x0 ∈ C, xn+1 = PC(xn − λF(xn)), n = 0, 1, 2,... Năm 2001, Yamada đề xuất thay PC bằng ánh xạ không giãn T hoặc họ ánh xạ không giãn {Ti}. Yamada chứng minh sự hội tụ mạnh của dãy xk+1 = (I − λk+1 µF)Txk, k ≥ 1 với các điều kiện về λk và µ.
1.1. Bài toán Bất đẳng thức biến phân Định nghĩa và tính chất
Bài toán BĐTBP tìm x0 ∈ C sao cho <F x0, j(x − x0)> ≥ 0, ∀x ∈ C, với j : E → E* là ánh xạ đối ngẫu chuẩn tắc đơn trị. Trong không gian Hilbert, nó trở thành BĐTBP cổ điển. Khi C là tập con khác rỗng, lồi, đóng của không gian Banach trơn E, BĐTBP tương đương với phương trình điểm bất động: p* = QC(I − λF) p*, λ > 0, tức là VI*(F, C) = Fix (QC (I − λF)).
1.2. Ánh xạ trong không gian Banach Các khái niệm cơ bản
Để hiểu rõ hơn về bài toán, cần nắm vững các khái niệm về ánh xạ trong không gian Banach, bao gồm ánh xạ đơn điệu, ánh xạ j-đơn điệu, ánh xạ η-đơn điệu mạnh, ánh xạ không giãn, ánh xạ co, và ánh xạ γ-giả co chặt. Mỗi loại ánh xạ có những tính chất riêng, ảnh hưởng đến việc giải bài toán BĐTBP.
II. Thách thức và vấn đề trong giải Bất đẳng thức biến phân 59 ký tự
Việc giải bài toán BĐTBP gặp nhiều thách thức. Một trong số đó là việc thực hiện phép chiếu mêtric PC từ H lên tập con lồi đóng C, đặc biệt khi C có cấu trúc phức tạp. Tương tự, việc thực hiện phép co rút không giãn theo tia QC từ E lên tập con lồi đóng C bất kỳ cũng gây khó khăn. Ngoài ra, việc tìm nghiệm của ánh xạ η-đơn điệu mạnh và ánh xạ liên tục Lipschitz F cũng đòi hỏi các phương pháp hiệu quả. Phương pháp dốc nhất truyền thống có thể hội tụ chậm.
2.1. Hạn chế của phương pháp chiếu Gradient truyền thống
Phương pháp chiếu gradient, xn+1 = PC(I − λn ∇ ϕ) xn, hữu ích khi F = ∇ϕ, với ϕ: H → R ∪ {∞} là hàm lồi khả vi Gâteaux. Tuy nhiên, việc thực hiện phép chiếu mêtric PC từ H lên tập con lồi đóng C của H là không dễ dàng do sự phức tạp của cấu trúc tập C. Khó khăn này cũng tương tự như khi thực hiện phép co rút không giãn theo tia QC từ E lên một tập con lồi đóng C bất kỳ của E.
2.2. Vấn đề hội tụ chậm của phương pháp dốc nhất
Phương pháp dốc nhất có thể bắt nguồn từ Cauchy (1847), là phương pháp đơn giản nhất để tối ưu hoá không bị ràng buộc: min f (x) x∈Rn ở đó f (x) là hàm vi phân trong Rn. Tuy nhiên, các tìm kiếm đường chính xác dọc theo mỗi hướng xuống dốc nhất có thể hội tụ rất chậm. Barzilar và Borwein đã trình bày một phương pháp gradient kích thước bước hai điểm, thường được gọi là phương pháp gradient Barzilar-Borwein (hoặc phương pháp BB). Phương pháp này chứng minh sự hội tụ siêu tuyến tính đối với bậc hai lồi trong không gian hai chiều và thực hiện khá tốt đối với các bài toán chiều cao.
2.3. Điều kiện hội tụ nghiêm ngặt cho phương pháp lặp Halpern
Phương pháp lặp Halpern: xn+1 = αn u + (1 − αn ) T (xn ) , n ≥ 0, trong đó u, x0 ∈ C, {αn } ⊂ (0, 1) và T là một ánh xạ không giãn từ tập con lồi đóng C của không gian Hilbert H vào C. Dãy {xn } xác định bởi (1.9) sẽ hội tụ về một điểm bất động của T nếu αn = n−α , α ∈ (0, 1), và yêu cầu các điều kiện (C1 ), (C2 ) và (C4 ).
III. Phương pháp lặp Ishikawa Giải pháp hiệu quả BĐTBP 57 ký tự
Phương pháp lặp Ishikawa, được đề xuất bởi Ishikawa (1974), cung cấp một giải pháp hiệu quả. Dãy lặp {xn} được xác định bởi xk+1 = T k xk, T k = (1 − βk)I + βk T((1 − αk)I + αk T), k ≥ 1, trong đó {αn} và {βn} là dãy số thực trong đoạn [0, 1]. Dù phương pháp lặp Mann có thể không hội tụ cho ánh xạ Lipschitz giả co, dãy lặp Ishikawa có thể hội tụ về điểm bất động.
3.1. Ưu điểm của phương pháp lặp Ishikawa so với Mann
Mutângdura và Chidume đã xây dựng một ví dụ cho trường hợp T là một ánh xạ Lipschitz giả co thì dãy lặp Ishikawa hội tụ về một điểm bất động của T nhưng dãy lặp Mann lại không hội tụ. Sự hội tụ yếu của dãy lặp Ishikawa về một điểm bất động của ánh xạ không giãn T trong không gian Banach đã được nghiên cứu và chứng minh bởi Tan và Xu. Do đó, phương pháp lặp Ishikawa có tính riêng của nó.
3.2. Điều kiện hội tụ của phương pháp lặp Ishikawa
Cho E là một không gian Banach lồi đều thoả mãn điều kiện của Opial hoặc có chuẩn khả vi Fréchet, C là một tập con khác rỗng, lồi và đóng của E. Cho T : C → C là một ánh xạ không giãn, ∞ X {αn} và {βn} là các dãy số trong đoạn [0,1] sao cho αn (1 − αn ) = ∞, n=1 ∞ X βn (1 − βn ) < ∞ và lim supβn < 1 . Khi đó, dãy {xn} xác định bởi n→∞ n=1 (1.11) hội tụ yếu về một điểm bất động của T .
IV. Phương pháp lặp Ishikawa đường dốc nhất Kết hợp tối ưu 59 ký tự
Luận văn tập trung vào sự kết hợp phương pháp đường dốc nhất và phương pháp Ishikawa. Phương pháp lặp được nghiên cứu là xk+1 = (I−tk F)T k xk; T k = (1−βk)I+βk T((1−αk)I+αk T), k ≥ 1, với các điều kiện về tk, βk, αk. Phương pháp này cung cấp một cải biên hội tụ mạnh cho phương pháp Ishikawa. Chứng minh được kết quả hội tụ mạnh cho (2.2) dưới các điều kiện cho trước.
4.1. Điều kiện đảm bảo hội tụ mạnh của phương pháp
Giả thiết rằng tk , βk và αk thỏa mãn các điều kiện tương ứng ∞ X (t) tk ∈ (0, 1), lim tk = 0 và tk = ∞, k→∞ k=1 ∞ X ∞ X |tk+1 − tk | < ∞; |βk+1 − βk | < ∞, k=1 k=1 (β) βk ∈ [a, b] ⊂ (0, 1) với mọi k ≥ 1, và (α) αk ∈ [0, a] với mọi k ≥ 1 và αk → 0 khi k → ∞. Thì, dãy {xk } sinh bởi (1.22), hội tụ mạnh tới p∗ , giải (1.1).
4.2. Chứng minh hội tụ và các bước thực hiện chính
Chứng minh được rằng dãy {xk} giới nội. Đặt hk = tk (I − F )T k , y k = (1 − αk )xk + αk W k xk và . Khẳng định lim kxk+1 − xk k = lim (1 − hk )kxk − wk k = 0. Do đó, dãy {xk }, sinh bởi (1.21), hội tụ mạnh về một nghiệm của bài toán.
V. Ứng dụng và Kết quả Nghiên cứu của phương pháp Ishikawa 55 ký tự
Nghiên cứu trình bày kết quả về phương pháp lặp Ishikawa đường dốc nhất cho một họ ánh xạ không giãn trong không gian Banach. Cụ thể, thu được sự hội tụ mạnh của dãy lặp tới p* với các điều kiện đi kèm. Trong trường hợp đặc biệt, αk = 0 nhận được phương pháp Krasnoselskii-Mann đường dốc nhất. Điều đó cho thấy sự mở rộng và tối ưu của phương pháp Ishikawa đường dốc nhất.
5.1. Ứng dụng thực tế trong bài toán điểm bất động
Luận văn đã trình bày ứng dụng cho bài toán tìm điểm bất động trong một họ các ánh xạ không giãn, có thể ứng dụng để giải quyết những vấn đề tối ưu trong không gian Banach.
5.2. Ví dụ minh họa kết quả tính toán và tính hiệu quả
Ví dụ với họ ánh xạ {Ti = PCi} với PCi là phép chiếu metric của H = E2, với Ci = {x = (x1, x2) ∈ H : ai ≤ x2 ≤ bi }. Các kết quả số cho thấy tính hữu hiệu của phương pháp.
VI. Kết luận và Hướng phát triển tiếp theo BĐTBP 58 ký tự
Luận văn đã hệ thống lại kiến thức về không gian Banach, ánh xạ, phép chiếu mêtric. Nghiên cứu và trình bày các phương pháp tìm điểm bất động như Mann, Halpern, Ishikawa. Nghiên cứu giải BĐTBP bằng phương pháp đường dốc nhất lai ghép và chỉ ra sự tối ưu hóa của phương pháp Ishikawa đường dốc nhất cho một họ ánh xạ không giãn.
6.1. Tóm tắt những đóng góp chính của luận văn
Luận văn đã hệ thống lại kiến thức về không gian định chuẩn, không gian Banach, ánh xạ trong không gian Banach, một số kiên thức về phép chiếu mêtric. Trình bày một số phương pháp cơ bản tìm điểm bất động. Nghiên cứu giải bài toán bất đẳng thức biến phân bằng phương pháp đường dốc nhất lai ghép và chỉ ra sự tối ưu hoá trong việc sử dụng phương pháp đường dốc nhất lai ghép. Đưa ra ví dụ số minh hoạ cho nội dung đã đề cập trong luận văn.
6.2. Hướng nghiên cứu và mở rộng trong tương lai
Phương pháp lai ghép đường dốc đã được nhiều tác giả cải tiến theo hướng giảm nhẹ các điều kiện đặt lên dãy tham số λn hoặc mở rộng cho bài toán bất đẳng thức biến phân trong những trường hợp phức tạp hơn, chẳng hạn như khi tập ràng buộc C là tập điểm bất động chung của một họ vô hạn các ánh xạ không giãn, của một nửa nhóm ánh xạ không giãn. Cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để phát triển các phương pháp giải hiệu quả cho các bài toán phức tạp hơn.