Chương 1: Lý thuyết về bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa tộc người và khái quát về văn hóa tộc người Cơ Tu trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam. Chương 2: Thực trạng công tác bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa tộc người Cơ Tu trên địa bàn huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam. Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ, phát huy giá trị văn hóa tộc người Cơ Tu trên địa bàn huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam. LÝ THUYẾT VỀ BẢO VỆ, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI VÀ KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI CƠ TU TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG GIANG TỈNH QUẢNG NAM 1.
Lý thuyết về bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa tộc người 1. Tộc người GS. Phan Hữu Dật xác định: thuật ngữ dân tộc trong Dân tộc học cần được hiểu, đó là tộc người, tiếng Hy Lạp là ethnos, ethnie. Và đưa ra khái niệm: tộc người là cộng đồng người hình thành trong lịch sử, trên một lãnh thổ nhất định, cùng có chung những đặc điểm tương đối bền vững về ngôn ngữ, văn hóa, tâm lý, ý thức sự thống nhất của mình và làm cho mình khác với các tộc người khác, thông qua tên tự gọi [0].
Đặng Nghiêm Vạn phân biệt nation (dân tộc) và ethnie (tộc người), ngoài sự đồng nhất hai thuật ngữ ethnos, ethnie chỉ định khái niệm chung tộc người, GS. Đặng Nghiêm Vạn đưa ra luận điểm dân tộc (nation) theo nghĩa được Liên hợp Quốc công nhận: thuật ngữ nation có nghĩa là một cộng đồng nhân dân (people) ổn định được phát triển trong lịch sử, với một lãnh thổ, một sinh hoạt kinh tế, một đặc trưng văn hóa, một tiếng nói chung, chỉ đạo bởi một nhà nước [0]. Tác giả Bùi Xuân Đính nêu rõ: Tộc người (ethnos, ethnie) là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, một tập đoàn xã hội, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi ba đặc trưng cơ bản, mang tính ổn định và tương đối bền vững qua hàng nghìn năm lịch sử là: ngôn ngữ, văn hóa, ý thức tự giác về cộng đồng [0]. Văn hóa và di sản văn hóa Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động dân tộc trong 13 quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và các thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng biệt của mỗi dân tộc” [0, tr. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đã có một số học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về văn hóa Việt Nam. Văn hóa được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất, những giá trị tinh thần và phương thức sinh hoạt của con người: "Vì sự sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa" [0, tr.
Tác giả Trần Ngọc Thêm định nghĩa "Văn hóa là một hệ hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình" theo [0, tr. Từ những quan niệm đó, ta nhận thấy: Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, mang tính chất chân, thiện, mỹ và phục vụ cho sự sinh tồn, phát triển của xã hội loài người. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ các giá trị tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VIII, 1998), Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. 14 Văn hóa là sản phẩm của loài người, được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Tuy nhiên, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa được tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển con người của xã hội được biểu hiện trong các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận bao gồm trong đó có cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ. Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 [15] và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009 [16], DSVH Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân loại có vai trò lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 - Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã nêu rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa” [0].
Ngoài ra, DSVH góp phần thỏa mãn nhu cầu văn hóa của nhân dân, nâng cao ý thức tự hào dân tộc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Văn hóa tộc người Cơ Tu: Văn hóa của tộc người Cơ Tu là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo trong cuộc sống cộng đồng của người Cơ Tu. Văn hóa của tộc người Cơ Tu gồm những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể cùng với văn hóa của các tộc người anh em khác tạo nên nền văn hóa của dân tộc Việt Nam. 15 - Di sản văn hóa vật thể của tộc người Cơ Tu “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích, lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” (Theo khoản 2 Luật di sản văn hóa năm 2001) Văn hóa vật thể của tộc người Cơ Tu biểu hiện rất rõ như: Gươl; kiểu dáng nhà sàn truyền thống; các đồ dùng trang sức; dụng cụ sản xuất, tự vệ; các phương tiện để săn bắn thú rừng; nhạc cụ cồng, chiêng, tù và; nhà mồ… - Di sản văn hóa phi vật thể tộc người Cơ Tu “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được giữ bằng trí nhớ, chữ việt, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, trí thức về y dược cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.” Theo khoản 1, Điều 4 Luật di sản văn hóa Tại Điều 2, Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO 2003 cho rằng: “Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kĩ năng và kèm theo đó là công cụ đồ vật, đồ tạo tác và không gian văn hóa liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ.
Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người”. 16 Văn hóa phi vật thể của tộc người Cơ Tu gồm những tri thức về mối quan hệ của người Cơ Tu với tự nhiên qua hoạt động đời thường như kinh nghiệm về mùa vụ, sức khỏe; truyện cổ tích, ca dao, dân ca, dân vũ; nghệ thuật tạo hình như kiến trúc nhà sàn, điêu khắc, chạm trổ hoa văn; trang phục truyền thống, văn hóa ẩm thực; tiếng nói, chữ viết Cơ Tu, lễ hội… 1. Bảo vệ giá trị văn hóa Bảo vệ là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái. Là một khái niệm có nội hàm rộng (cả đối tượng di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) do có sự khác nhau cơ bản về mặt kỹ thuật và quan điểm.
Theo cách hiểu biết phổ biến thì Bảo vệ văn hóa là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội. Giữa bảo vệ và phát huy giá trị luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng. Bảo vệ thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa. Phát huy cũng là một cách bảo vệ giá trị văn hóa tốt nhất.
Chính vì vậy bảo vệ và phát huy luôn chi phối, hỗ trợ cho nhau. Ngoài ra, còn có khái niệm bảo tồn di sản văn hóa, bảo tồn có nghĩa là giữ lại, không để mất đi.