Chương 1: Tổng quan tình hình tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng người Việt Nam tại Nhật Bản Bên cạnh việc đưa ra các khái niệm cơ bản về các yếu tô liên quan tới tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng người nước ngoài làm việc tại Nhật Ban, người viết tiến hành phân tích tình hình thực tế hoạt động xuất khâu lao động ở Việt Nam, lý do, mục đích lựa chọn đi làm ở nước ngoài và đặc biệt là thị trường việc làm Nhật Bản của người lao động cũng như nhà nước Việt Nam. Song song với việc đó, luận văn cũng tìm hiểu xã hội đang thiếu hụt lao động tram trong cua Nhat Ban, nhu cau tuyén dung lao động, tinh chat công việc, môi trường làm việc, sinh hoạt của tu nghiệp sinh và thực tập sinh người nước ngoài nói chung, các vẫn đề khó khăn, hệ quả mà người lao động nước ngoài tạo ra cho xã hội Nhật Bản. Chương 2: Cơ chế bảo vệ tu nghiệp sinh và thực tập sinh kỹ năng từ phía cơ quan quản lý Chương này sẽ liệt kê, phân tích các công cụ pháp lý, chính sách mà Chính phủ Nhật Bản đã và đang áp dụng trong việc giám sát, quản lý cho lao động người nước ngoài nhập cảnh với tư cách là tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng nói chung: đánh giá mặt có lợi, bất lợi đối với lao động người nước ngoài, đặc biệt là tu nghiệp sinh và thực tập sinh kỹ năng. Về phía Việt Nam, xuất phát từ thực tế công việc của người viết hiện nay, luận văn cũng tập trung phân tích công tác giám sát, quản lý của Chính phủ Việt Nam nhằm tiếp tục thúc đây lĩnh vực được coi là thế mạnh này; từ đó rút ra kinh nghiệm cho việc quản lý, lựa chọn, đào tạo, nâng cao nhận thức đối với Chính phủ Việt Nam, các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khâu lao động và người lao động Việt Nam đi xuất khâu nước ngoài, trọng tâm là thị trường Nhật Bản tiềm năng.
Chương 3: Thực trạng quản lý tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng người Việt Nam tại Nhật Bản và đề xuất giải pháp Những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động xuất khâu lao động của Việt Nam sẽ được đưa ra phân tích ở chương này dựa trên những thông tin thu được từ bảng hỏi. Người viết mạnh dan đề xuất một số giải pháp dành cho tu nghiệp sinh, thực tập sinh kỹ năng và cơ quan quản lý Việt Nam với hi vọng đóng góp thêm cái nhìn toản diện trong công tác đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tu nghiệp sinh, thực tập sinh người Việt Nam, giúp các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam nhận thức được vai trò của mình trong hệ thống hoạt động xuất khẩu lao động. CHUONG 1: TONG QUAN TINH HINH TU NGHIỆP SINH, THỰC TAP SINH KY NANG NGUOI VIET NAM TAI NHAT BAN 1. Cac khai niém co ban Theo tim hiểu của cá nhân người viết, hầu hết các thuật ngữ liên quan đến vấn dé xuất khâu lao động (sau đây gọi tắt là “XKLD”) sang thị trường Nhật Bản là do Nhật Bản đặt ra, sử dụng.
Với mục đích nghiên cứu thị trường, thúc day XKLĐ sang Nhật Bản, phía các cơ quan Việt Nam đã dich sang tiếng Việt và sử dụng. Vì vậy, các khái niệm trong luận văn được người viết sử dụng theo định nghĩa của phía Nhật Bản. s* Tu nghiệp sinh Theo định nghĩa của từ điển quốc ngữ tiếng Nhật, “tu nghiệp” là khóa dao tạo dành cho người lao động dé nâng cao trình độ và kỹ năng cần thiết về nghề nghiệp hoặc trao dồi thêm kỹ năng”. Vì vậy, tu nghiệp sinh (HEA) (sau đây gọi tắt là “TNS”) có thé được hiểu là những đối tượng thuộc chương trình tiếp nhận lao động người nước ngoài tại Nhật Bản, nhận được sự hỗ trợ để học tập những kỹ thuật, kỹ năng và kiến thức về nghề nghiệp cũng như các ngành sản xuất của Nhật Bản.
Chương trình TNS người nước ngoài của Chính phủ Nhat Bản được ra đời từ nửa cuối những năm 60 của thé ky XX và tồn tại đến trước tháng 07/2010. Mục đích chính của chương trình này là nhằm tạo nguồn nhân lực để phát triển kinh tế và công nghiệp thông qua việc chuyển giao kỹ thuật, kỹ năng và kiến thức về các lĩnh vực sản xuất của Nhật Bản cho các nước đang phát triển. Mặt khác, giúp cho các doanh nghiệp (sau đây gọi tắt là “DN”) Nhật Bản thúc đây sự năng động hoá, quốc tế hoá trong hoạt động sản xuất ? AAAS 2 RBA + ⁄#l[Hñnfflltfiöi4lfff (2009 4£) AATEC S p. EL) APA, (35 2h) , PRIN 10 của mình.
Thực tế đây là một hình thức tiếp nhận nguồn lao động đến từ các nước dang phát triển dé đối phó với tình trạng thiếu hụt lao động tại Nhật Bản. Sau khi kết thúc thời gian học tập và làm việc tại các DN, xí nghiệp tiếp nhận của Nhật Bản, TNS sẽ trở về nước, mang theo những kỹ thuật, kỹ năng làm việc, khoa học kĩ thuật, công nghệ sản xuất đã được trang bị, học hỏi được trong thời gian tu nghiệp dé áp dụng vào công việc và cuộc sống của TNS, giúp cho nền công nghiệp của đất nước mình được phát triển. Thời gian tu nghiệp là từ 6 tháng tới 1 năm tại các nhà máy, xí nghiệp tai Nhật Bản. Người tham gia - TNS phải trải qua quá trình học với hai nội dung gồm “Tu nghiệp tổng quát” (23⁄Øï4#) và “Tu nghiệp thực tế” (2£#Øf {#£).
Với Tu nghiệp tổng quát, TNS sẽ được giảng dạy về tiếng Nhật, văn hóa, các quy tắc lao động- làm việc, huấn luyện về sản xuất và một số nội dung khác. Sau khi hoàn thành Tu nghiệp tổng quát, TNS sẽ bước vào quá trình Tu nghiệp thực tế - làm việc thực tế tại các cơ sở sản xuất, xí nghiệp theo đúng kỹ năng đã được đào tạo trong thời gian Tu nghiệp tổng quát. Bước sang năm thứ hai, TNS phải thi tuyển dé lay chứng chỉ nghề của Nhật, nếu thi đỗ và có chứng chỉ nghề thì sẽ được gọi với tư cách mới là “thực tập sinh kỹ năng”, được nhận lương theo hợp đồng tương đương với mức lương của người Nhật tập sự theo quy định của Luật Tiêu chuẩn lao động Nhật Bản. s* Thực tập sinh kỹ năng Thực tập sinh kỹ năng (†tfEZE?#12:) (sau đây gọi tắt là “TTSKN”) là đối tượng của Chương trình đào tạo thực tập kỹ năng (AEE BIEL) được bắt đầu triển khai từ năm 1993.
Đây là chương trình tiếp nhận công nhân trẻ từ nhiều quốc gia khác nhau đến Nhật Bản, trang bị cho những đối tượng này các kỹ năng thông qua học tập và làm việc thực tế tại các nhà máy, xí nghiệp ở Nhật Bản, trong thời gian lưu trú, tối đa là 3 năm và được quy định trong hợp đồng lao động. Tuy nhiên, những đối tượng có thời gian tu nghiệp dưới 6 II tháng sẽ không được tham gia thực tập kỹ năng. Sau khi chuyền sang thực tập kỹ năng, người lao động nước ngoài vẫn phải làm việc ở nhà máy, xí nghiệp - nơi đã trải qua quá trình tu nghiệp. Nếu TNS thi đỗ và có bằng nghề sẽ được gọi với tư cách mới là “thực tập sinh kỹ năng” và được hưởng lương theo hợp đồng của nhà máy, xí nghiệp tương đương với người Nhật”.
Vậy tính đến thời điểm hoàn thành luận văn này (tháng 10/2018), qua các lần sửa đổi luật liên quan tới lao động người nước ngoài tại Nhật Bản, có hai thuật ngữ TNS và TTSKN đã được sử dụng. Do vậy, luận văn này sé sử dụng cả hai thuật ngữ này ứng với thời gian thuật ngữ được sử dụng trong văn bản pháp luật tại thời điểm đó. Cụ thể, TNS sẽ được dùng dé chỉ những đối tượng là lao động nước ngoài sang làm việc tại Nhật Bản trước ngày 01/07/2010 và những lao động nước ngoài chưa chuyên sang tư cách lưu trú TTSKN sau ngày 01/07/2010. Lao động người nước ngoài sang làm việc tại Nhật Bản, hoặc chuyền đổi tư cách lưu trú mới sau khi Luật Quan lý xuất nhập cảnh và công nhận người ti nạn sửa đôi được ban hành năm 2010 sẽ được gọi là TTSKN.
Không như các thị trường lao động ngoài nước khác, mặc dù có một số cách gọi khác nhau như chương trình tu nghiệp sinh, chương trình thực tập kỹ năng Nhật Bản với một số tiêu chuẩn riêng nhưng nó vẫn giữ bản chất là chương trình XKLĐ. Sở dĩ người viết đưa ra quan điểm như vậy là vì các công việc trong các đơn hàng tuyên dụng lao động sang Nhật Bản, chủ yếu là dành cho lao động phổ thông, không đòi hỏi quá cao về kiến thức và chuyên môn, hầu hết người lao động tham gia với mục đích tìm kiếm thu nhập tốt hơn so với công việc trong nước, chỉ có một số ít tham gia với mục đích chính là dé rèn luyện thêm về tiếng Nhật, học hỏi kinh nghiệm làm việc và văn hóa lao động của Nhật Bản. 3 Tổ chức hợp tác tu nghiệp quốc tế (JITCO) (2010), Sách hướng dẫn thực tập kĩ năng dành cho thực tập sinh kỹ năng, Tokyo, tr. 12 s* Cơ quan phái cử Cơ quan phái cử (URIBTCAESE + TAH LAGE): là những cơ quan ở nước phái cử ký kết, thỏa thuận với nghiệp đoàn tiếp nhận hoặc DN độc lập phía Nhật Bản quản lý về việc phái cử, tiếp nhận TNS, TTSKN và có vai trò đưa những đối tượng này sang Nhật Bản làm việc.
Tại Việt Nam, cơ quan phái cử bao gồm Chính phủ Việt Nam, đại diện là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Việt Nam, các DN tại Việt Nam tham gia hoạt động XKLĐP'. s* Doanh nghiệp tiếp nhận thực tập Theo Luật Quản lý xuất nhập cảnh va công nhận người ti nạn Nhật Ban, doanh nghiệp tiếp nhận thực tập (2S?12$l0$R]): là những công ty mà các TNS, TTSKN sẽ thực hiện quá trình tu nghiệp và thực tập trên thực tế”. Doanh nghiệp này sẽ chịu sự quản lý trực tiếp của Nghiệp đoàn quản ly (£#ÿ E44). s* Doanh nghiệp độc lập Doanh nghiệp độc lập (42445): là hình thức DN Nhật Bản tiếp hành tiếp nhận và đào tạo thực tập kỹ năng cho người lao động của các pháp nhân, DN liên doanh hoặc của các đối tác kinh doanh của DN Nhật Bản đó ở nước ngoài”.
Doanh nghiệp độc lập sẽ thực hiện cả chức năng của nghiệp đoàn quản lý.