Chương 1: Tổng quan về bảo hộ tác phẩm âm nhạc Chương 2: Các điều ước quốc tế đa phương và pháp luật Việt Nam về quyền tác giả, quyền liên quan trong vấn đề bảo hộ tác phẩm âm nhạc Chương 3: Thực trạng bảo hộ tác phẩm âm nhạc và kiến nghị các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ tác phẩm âm nhạc tại Việt Nam. 4 Chƣơng 1 Tổng quan về bảo hộ tác phẩm âm nhạc 1. Khái quát về tác phẩm âm nhạc 1. Khái niệm tác phẩm âm nhạc Tác phẩm âm nhạc là một trong những tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học thuộc đối tượng được bảo hộ sở hữu trí tuệ.
Các ĐƯQT và Luật SHTT Việt Nam đều có quy định về việc bảo hộ tác phẩm âm nhạc, cụ thể: Thứ nhất: tại khoản 1 Điều 2 Công ước Berne đã đưa ra thuật ngữ mang tính khái quát chung đó là tác phẩm văn học và nghệ thuật bao gồm tất cả các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học, nghệ thuật. Thứ hai: trong Luật SHTT Việt Nam đã liệt kê một cách cụ thể, rõ ràng về các tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học, trong đó có tác phẩm âm nhạc 2. Tại Điều 12 NĐ 100/2006/NĐ-CP đã định nghĩa: “Tác phẩm âm nhạc là tác phẩm được thể hiện dưới dạng nhạc nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn”. Qua khái niệm này chúng ta cũng cần phải nhấn mạnh rằng tác phẩm âm nhạc ở đây phải là một sản phẩm của quá trình tư duy, sáng tạo của tác giả, nó phải mang tính nguyên gốc, tác giả là người tự mình sáng tạo nên tác phẩm.
Nếu như nó không mang tính sáng tạo mà chỉ là một sự sao chép từ các tác phẩm âm nhạc khác thì tác phẩm âm nhạc đó không thể là một đối tượng SHTT. Tác phẩm âm nhạc phải được thể hiện dưới dạng nhạc nốt hoặc cũng có thể được thể hiện dưới dạng các ký tự âm nhạc khác có lời hoặc không có lời, tác phẩm âm nhạc này có thể được trình diễn hoặc không trình diễn. Từ đó, chúng ta có thể thấy tác phẩm âm nhạc thuộc đối tượng SHTT có phạm vi rộng, qua đó làm tăng khả năng được bảo hộ sở hữu trí tuệ, góp phần đảm bảo quyền lợi của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả cũng như các chủ thể quyền liên quan. 2 Điểm d khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 5 Việc hiểu một cách chính xác khái niệm tác phẩm âm nhạc sẽ góp phần quan trọng trong việc xác định đối tượng SHTT, đó là cơ sở để tác giả tác phẩm âm nhạc được độc quyền khai thác các khía cạnh kinh tế, bảo vệ sự sáng tạo của chính mình.
Khái niệm tác giả Theo quy định tại Điều 8 NĐ 100/2006/NĐ-CP thì “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học”, bao gồm các cá nhân sau đây: (i) Cá nhân Việt Nam có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả; (ii) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam; (iii) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam; (iv) Cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo Điều ước quốc tế về quyền tác giả mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp có hai người hoặc nhiều người cùng sáng tạo ra tác phẩm thì những người đó là đồng tác giả. Người sáng tạo ra tác phẩm phái sinh từ tác phẩm của người khác, bao gồm các tác phẩm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn là tác giả của tác phẩm phái sinh đó. Bảo hộ tác phẩm âm nhạc Bảo hộ tác phẩm âm nhạc chính là việc Nhà nước đưa ra các quy định pháp luật về các quyền, các giới hạn quyền, về thời hạn bảo hộ và một số ngăn cấm các hành vi xâm phạm quyền của các tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của họ đối với tác phẩm âm nhạc, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.
Ngoài ra để hoàn thiện khả năng bảo hộ pháp lý và tính hiệu lực của các quyền này, Nhà nước còn quy định các chế tài phù hợp và áp dụng các biện pháp thực thi về hành chính, dân sự, hình sự nhằm ngăn chặn, chống lại các hành vi trái pháp luật, quy định về địa vị pháp lý của hệ thống quản lý hành chính Nhà nước, thẩm quyền của các cơ quan 6 thực thi tại Việt Nam, hệ thống các cơ quan tư pháp để xét xử các vụ án xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan. Nhìn nhận một cách khái quát thì việc bảo hộ tác phẩm âm nhạc được Nhà nước quy định theo cơ chế nhất định, cụ thể: Thứ nhất là bảo hộ có mục đích: bảo hộ tác phẩm âm nhạc chính là nhằm đảm bảo cho người sáng tạo hay chủ sở hữu các tác phẩm có thể khai thác các giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để nhằm bù đắp lại công sức tư duy, sáng tạo, thời gian, tiền bạc đã bỏ ra, qua đó thúc đẩy sức sáng tạo của con người. Thứ hai là bảo hộ có chọn lọc: Nhà nước đã đặt ra các tiêu chuẩn để được bảo hộ, dựa trên lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội mà tài sản trí tuệ mang lại. Chỉ có những tác phẩm âm nhạc nào đáp ứng được các tiêu chuẩn do pháp luật quy định mới được bảo hộ.
Thứ ba là bảo hộ có thời hạn: bảo hộ tác phẩm âm nhạc luôn gắn với thời hạn bảo hộ nhất định, đặc biệt các quyền tài sản, cụ thể thì chỉ được bảo hộ trong thời hạn do pháp luật quy định. Hết thời hạn này, các sáng tạo trở thành tài sản chung của nhân loại và tất cả mọi người có thể khai thác, sử dụng mà không cần phải xin phép hay trả tiền. Sở dĩ Nhà nước cần phải bảo hộ các tác phẩm âm nhạc bởi lẽ đó chính là công sức, là thành quả của quá trình tư duy, sáng tạo của con người. Tác phẩm âm nhạc nói riêng hay âm nhạc nói chung có một vai trò vô cùng to lớn trong đời sống tinh thần của mỗi con người, rộng lớn hơn nó còn thể hiện nền văn hóa của một đất nước.
Do đó, việc bảo hộ tác phẩm âm nhạc sẽ khuyến khích sự sáng tạo, bảo vệ nguồn tài nguyên trí tuệ của đất nước, nâng cao ý thức tôn trọng các giá trị văn hóa, loại trừ những hành vi khai thác, sử dụng bất hợp pháp. Quyền tác giả, Quyền liên quan về vấn đề bảo hộ tác phẩm âm nhạc 1. Khái quát về quyền tác giả, quyền liên quan 1. Lịch sử hình thành quyền tác giả, quyền liên quan Vào thời kỳ Cổ đại và Trung cổ, con người chưa biết bảo vệ các quyền lợi do chính thành quả lao động sáng tạo của mình.
Các Nhà nước vào thời kỳ đó chỉ có thể đặt ra các quy định pháp luật về việc bảo vệ các tài sản hữu hình. Cũng bởi vì công nghệ in ấn chưa 7 ra đời nên việc sao chép tác phẩm chỉ có thể được thực hiện bằng tay, một cách thức thực hiện đòi hỏi mất rất nhiều thời gian, công sức nên việc sao chép các tác phẩm cũng rất hạn chế. Tuy nhiên đến khoảng năm 1440 khi công nghệ in ấn ra đời thì một quyển sách, một bản nhạc đã bị nhân bản lên với số lượng lớn một cách rất nhanh chóng và dễ dàng, bản thân các tác giả cũng không thể kiểm soát, quản lý được có bao nhiêu người đang sử dụng tác phẩm của mình. Chính vì vậy mà các tác giả và các nhà in đã kiến nghị nhà nước của mình bảo hộ quyền được in ấn và quản lý việc xuất bản.
Nước đầu tiên ban hành Luật về quyền tác giả là nước Anh vào năm 1710. Trong đạo luật này thừa nhận quyền của tác giả, cho họ hoặc người thừa kế của họ độc quyền in lại sách trong vòng 14 năm kể từ khi in sách lần đầu tiên. Tiếp đến là nước Mỹ vào năm 1790, Pháp vào năm 1791. Đến năm 1886, Công ước quốc tế về Bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật đã được ký kết tại Berne - Thụy Sĩ với 10 nước tham gia là Anh, Pháp, Đức, Hali, Tây Ban Nha, Bỉ, Thụy Sĩ, Li Bi, Hai-i-ti và Tuy Ni, xuất phát từ cơ sở của nguyên tắc “xử sự hợp lý ” cũng như từ nhiều lợi ích khác, họ đã đặt ra yêu cầu bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật của tác giả trong phạm vi quốc tế.
Ở Việt Nam do hoàn cảnh lịch sử đất nước trước năm 1945 là sự kế tiếp của các triều đại phong kiến nên hầu như chưa thể xuất hiện bất kỳ ý tưởng bảo hộ quyền của bất cứ nhà sáng tác tác phẩm viết nào. Sau khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, do điều kiện riêng của sự phát triển kinh tế - xã hội, lại thêm hoàn cảnh chiến tranh kéo dài nên ngay cả trong chế độ dân chủ mới, chúng ta cũng chỉ có một số ghi nhận mang tính nguyên tắc và hết sức khái quát trong Hiến pháp về một vài vấn đề liên quan đến lợi ích của người sáng tạo. Chẳng hạn, tại Hiến pháp năm 1946 chỉ có Điều 13 quy định như sau: “Quyền lợi các giới cần lao trí thức và chân tay được bảo đảm”. Còn Hiến pháp năm 1959 thì quy định rộng hơn “… Nhà nước khuyến khích tính sáng tạo và tinh thần tích cực trong lao động của những người lao động chân tay và lao động trí óc” (Điều 21).
Rồi sau đó là sự ra đời của Nghị định số 142/HĐBT ngày 14/11/1986 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) quy định quyền tác giả.