Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 1. QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP VÀ BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP BẰNG BIỆN PHÁP DÂN SỰ 1. Khái niệm quyền sở hữu công nghiệp Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người và thực tiễn cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, để tồn tại và phát triển thì đòi hỏi con người phải không ngừng sáng tạo. Những thành quả do trí tuệ con người làm ra thông qua hoạt động sáng tạo được thừa nhận là tài sản trí tuệ.
Tài sản trí tuệ được tồn tại dưới dạng những thông tin kết hợp chặt chẽ với nhau, được thể hiện trong những vật thể hữu hình và bản thân vật mang thông tin đó có khả năng xuất hiện trong cùng một thời điểm với số lượng bản sao không giới hạn ở những địa điểm khác nhau trên thế giới. Quyền sở hữu trong trường hợp này không phải là quyền sở hữu bản thân các bản sao hữu hình mà chính là quyền sở hữu hình thức thể hiện những thông tin chứa đựng trong các bản sao đó [29]. Khác với những tài sản thông thường khác, đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ là tài sản vô hình. Nếu như sở hữu tài sản thông thường vật sở hữu là những vật con người có thể nhận biết, cảm nhận được bằng trực quan, thì tài sản vô hình không thể nắm bắt được, sự tồn tại của chúng bắt nguồn từ sự sáng tạo tinh thần trí tuệ của con người.
Mặt khác, một nét đặc thù của quyền sở hữu trí tuệ so với quyền sở hữu thông thường đó là không tồn tại quyền chiếm hữu trong nội dung quyền sở hữu trí tuệ. Đối với tài sản trong quyền sở hữu thông thường, người ta chỉ có thể khai thác được lợi ích kinh tế khi chiếm hữu được tài sản đó. Trong khi đó đối với các tài sản là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, các lợi ích vật chất này vẫn có thể khai thác mặc dù không có sự chiếm hữu. Nếu như quyền sở hữu tài sản 10 z bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt của chủ sở hữu thì QSHTT có nội hàm rộng hơn.
Theo khái niệm chung nhất, trong Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ký tại Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 thì: “Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, các sáng chế trong các lĩnh vực hoạt động của con người, các khám phá khoa học, các kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên và chỉ dẫn thương mại, bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh cũng như tất cả các quyền khác bắt nguồn từ các hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học nghệ thuật” [22]. Như vậy, trong Công ước trên, người ta người ta phân biệt đối tượng QSHTT gồm hai lĩnh vực: quyền tác giả và các quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì các quyền mới như thiết kế, bố trí mạch tích hợp bán dẫn, các quyền về giống cây trồng mới cũng được pháp luật bảo hộ và được coi là đối tượng quyền sở hữu công nghiệp. Theo Luật Sở hữu trí tuệ thì QSHTT được định nghĩa như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” (khoản 1 Điều 4), [17].
Theo pháp luật Việt nam, QSHTT là chế định trong pháp luật dân sự, là lĩnh vực thuộc quan hệ pháp luật dân sự, trong đó các yếu tố cấu thành bao gồm chủ thể, khách thể và nội dung. QSHTT là một phạm trù pháp lý trong quyền sở hữu nói chung, do vậy, giống như các quyền dân sự khác, QSHTT cũng bao gồm các nhóm quy phạm liên quan đến các hình thức sở hữu, căn cứ phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu, cách thức, biện pháp chuyển quyền sở hữu, các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu. Như trên đã đề cập, do QSHTT là quyền sở hữu đối với tài sản vô hình, là các sản phẩm sáng tạo 11 z của trí tuệ con người, do đó nội dung của QSHTT không hoàn toàn giống quyền sở hữu tài sản hữu hình khác. Vì vậy, quyền năng quan trọng nhất của nội dung QSHTT là quyền sử dụng các đối tượng SHTT.
Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển làm thay đổi cơ bản nền sản xuất và thương mại của hầu hết các nước, các đối tượng của QSHTT sẽ là cơ sở để đánh giá một nước ở trình độ phát triển hay đang phát triển. Khi nhận định về tầm quan trọng của QSHTT, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nhận định: kinh tế coi SHTT là khả năng cạnh tranh, nhà khoa học coi SHTT là sức sáng tạo, xã hội coi SHTT là sức sống. Cạnh tranh trong thế giới hôm nay và tương lai là cạnh tranh về SHTT [45]. Trong QSHTT thì quyền sở hữu công nghiệp (QSHCN) là quyền sở hữu các tác phẩm sáng tạo trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại.
Theo quan niệm của pháp luật dân sự truyền thống ở Việt Nam, khi nói tới QSHCN người ta thường đề cập đến những vấn đề như: sử dụng các đối tượng SHCN, hoặc là chuyển giao QSHCN, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo hộ QSHCN. Đây là quyền của chủ thể chủ yếu là dưới góc độ quyền dân sự. Trước thực tế phát triển sôi động của hoạt động thương mại, QSHCN còn được nhìn nhận dưới góc độ thương mại đó là những quyền: quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến QSHCN, quyền kiểm soát độc quyền liên quan đến QSHCN, quyền được thực thi QSHCN nhằm bảo hộ quyền lợi thương mại [32]. Theo quy định tại khoản 4, Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 thì: "Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh" [17].
Quyền sở hữu công nghiệp được xác lập như sau: Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của 12 z cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định trong Luật Sở hữu trí tuệ hoặc công nhận đăng ký quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đối với nhãn hiệu quốc tế, quyền sở hữu được xác lập trên cơ sở sử dụng, không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký. Đối với tên thương mại, QSHCN được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó. Đối với bí mật kinh doanh, QSHCN được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó. Đối với quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thì được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh.
QSHCN của chủ văn bằng bảo hộ thể hiện trên các nội dung sau: Độc quyền sử dụng đối tượng SHCN thông qua các hành vi sử dụng tương ứng với đối tượng được bảo hộ như: sản xuất; gắn nhãn hiệu lên hàng hoá và các phương tiện trong hoạt động kinh doanh; áp dụng quy trình được bảo hộ; khai thác sản phẩm được bảo hộ; đưa vào lưu thông, quảng cáo nhằm để bán, chào bán, tàng trữ để bán; nhập khẩu; chuyển giao một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp cho cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác thông qua hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng li xăng) đối với các đối tượng theo nguyên tắc cấp văn bằng bảo hộ (cho phép người khác được sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của mình); chuyển giao quyền sở hữu, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu công nghiệp khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật như: người được chuyển giao, nhận thừa kế thoả mãn yêu cầu của chủ thể quyền; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của mình phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm gây ra. Trong quan hệ thương mại, các đối tượng của QSHCN được coi là tài sản (tài sản vô hình) có giá trị ngang bằng với tài sản vật chất và có thể được coi là nguồn vốn đầu tư có giá trị [25]. Do vậy, việc bảo hộ quyền sở 13 z hữu công nghiệp đã trở thành một chính sách mang tính toàn cầu, là yêu cầu bắt buộc đối các quốc gia trong việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Khái niệm về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp bằng biện pháp dân sự 1.
Khái niệm về bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp Để làm rõ khái niệm bảo vệ QSHCN, trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm về bảo hộ, thực thi QSHCN và mối liên hệ giữa chúng. Trong Công ước Paris, bảo hộ QSHCN bao gồm các đối tượng là sáng chế, mẫu hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn xuất xứ hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa, cũng như việc ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh [23]. Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “bảo hộ” được hiểu theo nghĩa thông thường là “che chở, không để bị hư hỏng, tổn thất” [39]. Việc bảo hộ luôn được gắn với sự quản lý của nhà nước thông qua các giải pháp để bảo vệ, giúp đỡ, hỗ trợ bằng chính sách, pháp luật mà mỗi quốc gia dành cho công dân hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động, cư trú ở nước đó.
Nguyễn Thanh Tâm: bảo hộ QSHCN được hiểu là việc nhà nước, bằng những quy định của pháp luật, xác lập QSHCN, xác định những hành vi bị coi là xâm phạm QSHCN và quy định những biện pháp xử lý những hành vi vi phạm đó [32].