CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG THEO CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 1. Khái niệm, nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người lao động trong pháp luật lao động 1. Khái niệm về người lao động và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người lao động 1. Khái niệm về người lao động Khái niệm về Người lao động được tiếp cận ở nhiều khía cạnh khác nhau, phụ thuộc vào nhiều yếu nên nó chỉ mang tính tương đối, cho đến nay ở các quốc gia khác nhau có những quan niệm, những cách hiểu khác nhau về người lao động.
Điển hình như ở Hoa Kỳ và Châu Âu có thể thấy được sự khác nhau này. Theo Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng năm 1938 của Hoa Kỳ có đưa ra định nghĩa về người lao động tại Điểm e, Điều 203 là “một cá nhân được tuyển dụng bởi bất kỳ người sử dụng lao động nào bao gồm trường hợp bất kỳ công dân Hoa Kỳ được người sử dụng lao động tuyển dụng tại nơi làm việc ở nước ngoài cũng được xem là người lao động. “Ngoài ra, định nghĩa này còn chỉ ra rằng các trường hợp ngoại lệ như công chức, viên chức bất kỳ hoặc đặc khu chính trị nào của bất kỳ Tiểu bang nào thì không được xem là người lao động trong quan hệ lao động”. Được biết Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng (FLSA) một đạo luật ở Hoa Kỳ được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động khỏi các hành vi trả lương không công bằng.
FLSA điều chỉnh các khía cạnh lao động liên quan đến quan hệ lao động chung nhất cho các tiểu bang, bao gồm mức lương tối thiểu, tiền lương làm thêm giờ và hạn chế lao động trẻ em. Được thông qua vào năm 1938 và đã trải qua nhiều sửa đổi trong suốt nhiều năm, FLSA được coi là một trong những quy định 3 Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động Công bằng năm 1938 - The Fair Labor Standards Act of 1938 8 quan trọng nhất mà Người sử dụng lao động cần phải biết, bởi vì nó đặt ra một số quy định để đối xử công bằng với NLĐ, bất kể liệu họ được trả lương cố định hay tính theo giờ làm việc. “Ở Châu Âu thì Luật pháp của EU chưa có một định nghĩa chính thức về “Người lao động” hoặc “hợp đồng lao động” mà khái niệm này sẽ được trao cho Tòa án Công lý của Liên minh Châu Âu (CJEU) chịu trách nhiệm phát triển nó. Tuy nhiên, về cơ bản CJEU công nhận rằng các quốc gia thành viên của EU có thể đưa khái niệm về “người lao động” vào trong luật quốc gia”4.
Trong Án lệ 66 trong 85 Án lệ của Tòa án Công lý Liên minh Châu Âu là một vụ kiện về tự do di chuyển của người lao động trong lãnh thổ của Liên minh Châu Âu. Phán quyết này của Tòa án Công lý Châu Âu liên quan đến phạm vi bảo vệ cho những người lao động. Thì Tòa án có xác định thế nào là “Người lao động”, cụ thể “Bất kỳ người nào trong một khoảng thời gian nhất định thực hiện các dịch vụ thỏa mãn 3 yếu tố sau đây thì được xem là Người lao động: - “Đặt dưới sự chỉ đạo của của một người khác; - Nhận được thù lao từ việc thực hiện dịch vụ đó; - Thực hiện dịch vụ một cách có hiệu quả và đúng với quy định pháp luật.”5 Ta có thể thấy rằng hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về người lao động, các quốc gia có thể quy định hoặc không quy định trong luật của nước mình. Nhưng có thể thấy điểm chung nhất về người lao động được xem là bất kỳ người nào được trả lương tham gia hoặc làm việc theo các điều khoản của hợp đồng lao động đặt dưới sự chỉ đạo của người sử dụng lao động, và nhận tiền lương trực tiếp hoặc gián tiếp từ người sử dụng lao động.
Từ định nghĩa về người lao động, ta có thể thấy Người lao động là bên yếu thế hơn trong mối quan hệ lao động. Vì thế việc bảo vệ quyền lợi của 4 Emanuele Menegatti (2019), The Evolving Concept of “worker” in EU law, Italian Labour Law e-Journal Issue 1, Vol. 12 (2019), ISSN 1561-8048 [https://doi.1561-8048/9699] 5 CJEU, Case C-66/85 Deborah Lawrie-Blum v Land Baden- Württemberg ECLI:EU:C:1986:284, [https://curia.eu/juris/liste.jsf?num=C-66/85] 9 người lao động nhằm đảm bảo người lao động được đối xử công bằng và có các quyền lợi cần thiết để làm việc trong một môi trường làm việc an toàn và có ích cho họ. Nguyên tắc của bảo vệ quyền lợi người lao động Thứ nhất, bảo vệ quyền lợi của người lao động – là bảo vệ bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động.
“Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động là quan hệ mang tính kinh tế - xã hội đặc biệt”6. Trong quan hệ này xác định việc thoả thuận, trao đổi bằng sức lao động của chính người lao động cho người sử dụng lao động. Tuy vậy, thỏa thuận này không được thực hiện theo cách của các giao dịch thông thường như trong lĩnh vực dân sự, mà thay vào đó được tiến hành thông qua hợp đồng lao động được xem như là hành lang pháp lý để bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của các bên. Quá trình cốt lõi trong quan hệ này là quá trình mà NLĐ tự mình chuyển đổi sức lao động để tạo ra giá trị, sản phẩm mà người sử dụng lao động yêu cầu.
“Quy trình chuyển giao sức lao động đó ở mỗi đơn vị là không giống nhau nhưng có điểm chung là phải trong một không gian (nơi làm việc) và thời gian (thời gian làm việc)”7. Theo tác giả Lưu Bình Nhưỡng: “Khi kết hợp các thoả thuận về lao động và các chế độ liên quan đến quá trình chuyển giao sức lao động chính là lúc xuất hiện các vấn đề nhạy cảm và dễ dẫn đến những bất đồng giữa các bên”8. Có thể thấy rõ ràng đối với quan hệ lao động, người lao động bao giờ cũng bị lệ thuộc vào người sử dụng lao động. Sự phụ thuộc của người lao động vào người sử dụng lao động có thể thấy trên nhiều phương diện khác nhau (về kinh tế, quyền quản lý lao động,.) người lao động luôn phải thực hiện các công việc dưới sự điều hành, quản lý của người sử dụng lao động9, Trong quá trình thực hiện lao 6 Dương N.
Người lao động là gì? Quan hệ với người sử dụng lao động? Luật Dương Gia.vn/nguoi-lao-dong-la-gi-quan-he-giua-nguoi-lao-dong-va-nguoi-su-dung-lao-dong/ [Truy cập ngày 18/10/2023] 7 Sơn, T. [Tạp chí 2022] Một số vấn đề về bảo vệ quyền của người lao động trong pháp luật Việt Nam theo cam kết của Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương – Trần Tuấn Sơn. Tạp chí Pháp luật và thực tiễn số 48/2022.com/mot-so-van-de-ve-bao-ve- quyen-cua-nguoi-lao-dong-trong-phap-luat-viet-nam/#_edn1 [Truy cập ngày 18/10/2023] 8 Lưu Bình Nhưỡng (2008), Quan hệ lao động trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường, Tạp chí Luật học, Tập 2/2008. 9 Đỗ Thị Dung (2016), Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
10 động, người lao động có thể đối mặt với một số rủi ro, bao gồm làm việc trong điều kiện không đảm bảo vệ sinh và an toàn lao động; vi phạm về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi; các hành vi phân biệt, đối xử từ phía người sử dụng lao động hoặc có thể bị hạn chế, ngăn cản các quyền tham gia, hoạt động công đoàn của người lao động, và nhiều vấn đề khác có thể phát sinh 10. Những hành vi như trên đều làm ảnh hưởng, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động đã được pháp luật bảo vệ. Thứ hai, bảo vệ quyền lợi của người lao động có liên quan mật thiết đến quyền con người, quyền của người lao động, quyền con người trong lĩnh vực lao động và việc làm. Một số quyền của NLĐ được xem như là quyền cơ bản của con người như như tự do lập hội, tự do khỏi lao động cưỡng bức và lao động trẻ em và không phân biệt đối xử, v.
Một khi các quyền này được tôn trọng và tuân thủ chặt chẽ. Khi các quyền này được tôn trọng và tuân thủ, điều này tạo ra một môi trường làm việc hiệu quả, nơi mà người lao động cảm thấy tin cậy và có động lực để cống hiến từ đó tăng được năng suất làm việc. Theo Buchele và Christiansen cho rằng “Khi người lao động được đối xử tốt hơn, được khuyến khích tham gia vào công việc quản lý và được trao các quyền để thương lượng tập thể hoặc các quyền lợi tối thiểu, thì năng suất không hề giảm đi mà còn được nâng cao. Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi của người lao động • Về góc độ lịch sử Theo Ph.
Ăng-ghen đã đưa ra quan điểm: “Từ sự phân công xã hội lớn lần đầu tiên, đã nảy sinh ra sự phân chia xã hội lớn đầu tiên trong xã hội thành hai giai cấp: chủ nô và nô lệ, kẻ bóc lột và người bị bóc lột”12. Chủ nô nắm giữ toàn bộ tư liệu sản 10 Đỗ Thị Dung (2016), Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 11 Robert Buchele and Jens Christiansen (1995), Worker Rights Promote Productivity Growth, JSTOR Vol. Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 240 11 xuất và cả nô lệ, biến người nô lệ thành một "công cụ biết nói" 13. Nô lệ chịu quyền kiểm soát trực tiếp của chủ nô. Chủ nô cưỡng bức nô lệ phải làm việc cực nhọc, đồng thời cung cấp cho nô lệ một số đồ dùng thiết yếu để ăn và lấy phần sản phẩm còn dư thừa, mà không trả cho họ bất kỳ một đồng tiền công nào.
Lao động nô lệ thể hiện bản chất là sự bóc lột, cho nên người nô lệ chẳng những không muốn làm việc còn tìm cách chống đối. Những cuộc nổi dậy của nô lệ nổ ra ở khắp mọi nơi dù chịu thất bại nặng nề song đã làm sụp đổ tận gốc rễ chế độ chiếm hữu nô lệ. Đối với nhà nước phong kiến thì quyền lực nằm trong tay nhà vua và để bảo vệ quyền lợi của vua chúa và địa chủ phong kiến cho nên NLĐ trong thời kỳ này chịu hình thức bóc lột điển hình là địa tô lao dịch. Người lao động được giao đất cho sản xuất nhưng sau đó phải nộp lại cho địa chủ thông qua các khoản sưu thuế rất nặng nề.