CHƯƠNG 1: QUYEN CUA DOANH NGHIEP TRONG PHAP LUAT THUE GIA TRI GIA TANG O VIET NAM. Quyền của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế giá trị gia tăng Theo Điều 2, Luật thuế giá tri gia tăng số 13/2008/QH12 do Quốc hội nước ta ban hành ngày 03/06/2008 và cũng là văn bản luật hiện nay đang áp dụng, thuế giá trị gia tăng được định nghĩa như sau: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”. Khi phát sinh các nhu cầu chỉ tiêu, Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị để tham gia vào việc phân phối một phần sản phẩm xã hội bằng cách đặt ra chế độ thuế khóa buộc các thành viên trong xã hội phải đóng góp - phương thức động viên tài chính đầu tiên trong lịch sử. Mục đích của thuế giá trị gia tăng là khuyến khích chuyên môn hoá, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mua sắm máy móc thiết bị và tăng năng suất lao động nhằm mục đích tăng chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra thành pham cao cho doanh nghiệp, tăng tỷ lệ huy động vốn cho ngân sách Nhà nước.
Thuế sinh ra từ nhà nước, tồn tại dựa vào quyền lực nhà nước. Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý để đảm bảo các doanh nghiệp nói riêng và người nộp thuế nói chung tuân thủ nghiêm túc nghĩa vụ thuế. Quan hệ xã hội xuất hiện chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, song quyết định nhất vẫn là yêu tố Nhà nước để phục vụ lợi ích của mình và tạo ra trật tự chung cho xã hội, Nhà nước dùng quy phạm pháp luật như một quy tắc xử sự chung nhăm tập trung nguồn thu từ thuế vào ngân sách Nha nước. Quan hệ thu, nộp thuế thực hiện dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật đã trở thành quan hệ pháp luật thuế.
Trong quan hệ pháp luật về thuế, doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với nhà nước theo pháp luật quy định, còn các cơ quan quản lý thuế 11 được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức, điều hành, giám sát và bảo đảm việc thực hiện pháp luật thuế và thu tiền thuế cho ngân sách Nhà nước. Nhà nước trao quyên hạn, trách nhiệm quản lý thuế cho Bộ tài chính mà trực tiếp là hệ thống cơ quan quản lý thuế gồm cơ quan thuế và cơ quan hải quan chịu trách nhiệm chính trong thực thi nhiệm vụ quản lý thuế. Cơ quan quản lý thuế có cơ chế quản lý đối với tất cả doanh nghiệp buộc phải tuân theo nhăm bao vệ quyền lợi nhà nước, đồng thời tôn trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp. Vi tri pháp lý của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế Cùng với Nhà nước, doanh nghiệp là một chủ thể tham gia và đóng vai trò chủ đạo trong quan hệ pháp luật thuế.
Đây là chủ thể có mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết và trực tiếp sáng tạo, quản lý các lợi ích vật chất được hình thành trong xã hội. Cũng như các chủ thê tham gia vào quan hệ pháp luật khác, để trở thành người nộp thuế trong quan hệ pháp luật thuế đòi hỏi các tô chức, cá nhân phải hội tụ đủ năng lực chủ thé, nang luc hanh vi. Voi tu cach là một chủ thể trong quan hệ pháp luật thuế, doanh nghiệp có đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham gia quan hệ pháp luật thuế, các quyền và nghĩa vụ này cũng chính là một phần nội dung của quan hệ pháp luật thuế. Có hai cách đánh giá khác nhau về vị trí pháp lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào viêc xác đỉnh bản chất pháp lý của quan hệ pháp luật thuế.
Thứ nhát, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ pháp luật hành chính được thiết lập giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức khác trong xã hội được điều chỉnh bởi hệ thống văn bản pháp luật thuế và được điều chỉnh bởi phương pháp mệnh lệnh quyền uy. Quan hệ pháp luật thuế dưới góc độ vật chất được thiết lập dé tao lap nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tiền đề pháp luật thuế thiết lập quan hệ là do sự hình thành chính thể nhà nước để quản lý điều hành các hoạt động trong xã hội. Bộ phận chức 12 năng ấy cần có nguồn vật chất hoạt động, nên thuế hình thành.
Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, các doanh nghiệp tham gia với tư cách là người nộp thuế buộc phải chuyên giao một phần lợi ích của mình cho ngân sách Nhà nước. Với quan điểm này, quan hệ pháp luật thuế là quan hệ bất bình đăng, trong đó một bên là cơ quan nhà nước - với tư cách là bên có quyền lực Nhà nước. Theo Điều 47, Hiến pháp 2013 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận "Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định". Vì thế, khi thiết lập quan hệ pháp luật thuế, các chủ thể tham gia với tư cách là người nộp thuế trước khi Luật Quản lý thuế ra đời, thường chỉ được nhìn nhận dưới góc độ phải thực hiện nghĩa vụ mà có rất ít quyền.
Còn doanh nghiệp với tư cách là bên có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định. Việc nhận thức không đầy đủ có thé gây thiệt hại cho Nhà nước lẫn doanh nghiệp và xã hội nói chung vì những hao phí không mang lại giá trỊ. Thứ hai, theo quan điểm của Mác, quyền của con người là sự thông nhất giữa quyền và nghĩa vụ. Do vậy, trong quan hệ pháp luật thuế, doanh nghiệp với tư cách là người nộp thuế cũng phải có một số quyền nhất định.
Do đó, trong bối cảnh xã hội hiện đại, cần đổi mới quan niệm về thuế và quan hệ pháp luật thuế, theo hướng cho rằng quan hệ pháp luật thuế không hoàn toàn là quan hệ hành chính mà thực chất nó có tính chất của một quan hệ trao đổi song phăng giữa hai bên (Nhà nước và doanh nghiệp là người nộp thuế). Điều này đồng nghĩa với việc thay đổi vai trò của Nhà nước trong quan hệ pháp luật thuế, theo hướng chuyền từ mô hình “cơ quan cai trị” sang mô hình “cơ quan phục vụ”. Với quan niệm này, chúng ta đề cao vị thế của người nộp thuế trong quan hệ pháp luật thuế và đảm bảo cho người nộp thuế có khả năng bảo vệ trước các nguy cơ bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cơ quan quản lý thuế hoặc công chức quản lý thuế gây ra. Khi đó, nhà nước và người nộp thuế sẽ ở vào vị trí bình đăng hơn, nghĩa là Nhà nước có ít quyền hơn và người nộp thuế 13 có nhiều quyền hơn so với cách hiểu truyền thống về quan hệ pháp luật thuế.
Có thê thấy rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc nhìn nhận quan hệ pháp luật thuế như thế nào và xác định bản chất của nó ra sao là vấn đề có tính then chốt, ảnh hưởng quyết định đến việc xác định vị trí pháp lý của người nộp thuế cũng như việc ghi nhận các quyên và nghĩa vụ pháp lý cho người nộp thuế trong quan hệ pháp luật thuế. Nếu xác định không đúng thì sẽ dẫn đến hệ quả làm “méo mó” bản chất đích thật của quan hệ pháp luật thuế và làm cho chính sách thuế của Nhà nước trở thành gánh nặng đối với người dân. Phân loại quyền của doanh nghiệp trong quan hệ pháp luật thuế Quyền của doanh nghiệp với tư cách là người nộp thuế được quy định tại Điều 16 Luật quản lý thuế 2019 có hiệu lực ngày 1/7/2020 thì có thé phan biệt quyền của doanh nghiệp thành hai nhóm là quyên trực tiếp và gián tiếp. Thứ nhất là, quyền gián tiếp - được hưởng các tiện ích do Nhà nước cung cấp.
Bộ máy Nhà nước ta hoạt động dé duy trì một xã hội có tô chức. Mọi chủ thê trong xã hội được bảo đảm duy trì đời sống vật chất và tinh thần theo những đòi hỏi khách quan nhưng vẫn không làm phá vỡ sự tồn tại của các chủ thê khác. Nhà nước sẽ đóng vai trò là người tổ chức điều hành xã hội và cung ứng các tiện ích công cộng cũng như ban hành các thể chế pháp lý, tạo ra hành lang pháp lý duy trì sự bình đắng của các chủ thể cùng sống trong Nhà nước mình. Các chủ thê trong xã hội sẽ được hưởng những lợi ích đó do Nhà nước cung ứng, cho nên chủ thê phải thực hiện nghĩa vụ đó là thanh toán cho Nhà nước một khoản giá trị nhất định.
Doanh nghiệp với tư cách người nộp thuế là chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc tiến hành các hoạt động khác nhằm mục đích tìm kiếm ra giá trị mới như việc thụ hưởng lợi ích vật chất từ quá trình sáng tạo và lao động hay do nắm giữ những quyền về tài sản nhất định hoặc từ hoạt 14 động xuất nhập khẩu. Doanh nghiệp tác động vào đối tượng chịu thuế của một sắc thuế và phải chịu sự điều chỉnh của sắc thuế đó cũng như doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ cụ thể trong tổng thể nghĩa vụ thuế như là việc đăng ký, kê khai, nộp và quyết toán thuế. Do đó, doanh nghiệp có quyền được hưởng tất cả tiện ích và phúc lợi công cộng do Nhà nước cung cấp cho họ. Những lợi ích tinh thần hay vật chất mà Nhà nước cung cấp đó là những giá trị đặc biệt mà không chủ thể nào trong xã hội có khả năng thực hiện được như là: xây dựng các công trình công cộng, cung ứng phúc lợi xã hội, ban hành pháp luật, thành lập các cơ quan quản lý, cơ quan tư pháp, bộ máy quản lý trấn áp.
Như vậy có thê gọi đây là quyền gián tiếp vì nó không trực tiếp phát sinh từ bên trong của quan hệ pháp luật thuế cơ bản. Quyền gián tiếp thể hiện sự quay trở lại của thuế đối với đời sống xã hội. Các giá trị được phân bổ trở lại cho các chủ thể, không chỉ dành riêng cho doanh nghiệp, mà được phân bô chung trong cộng đồng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của Nhà nước và thực tiễn kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Vì vậy mà thuế được xem là khoản thu không mang tính đối giá và hoàn trả trực tiếp.
Doanh nghiệp chỉ phải nộp khi quan hệ xã hội mà doanh nghiệp đó tham gia chịu sự điều chỉnh của sắc thuế và quan hệ ấy mang lại giá trị kinh tế.