MỞ ĐẦU 1.M6 ĐẦU Trên phạm vi toàn thế giới, trong một thời kỳ khá dài, cách tiếp cận phát triển kinh tế - xã hội lấy mục tiêu kinh tế làm trọng tâm đã phải trả giá bằng việc gây ra nhiều thảm họa môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên do không tính đến hoặc tính đến một cách không đầy đủ những lợi ích cho các thế hệ tiếp sau. Những trả giá này lớn đến mức buộc con người phải nhận thức lại: Trái đất không phải là nguồn tài nguyên vô tận; con người không thể (thật ra chưa bao giờ) thống trị và khai thác trái đất theo ý mình. Thừa nhận các giới hạn của trái đất, thừa nhận con người phải sống hoà hợp với thiên nhiên đã dẫn đến cách tiếp cận phát triển kinh tế - xã hội mới: Phát triển bền vững. Theo hướng tiếp cận như vậy, công trình nghiên cứu này có mục đích phân tích các vấn đề về môi trường, tài nguyên, bảo vệ môi trường trong việc thực hiện một số chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi Việt Nam.
Trên cơ sở nhận thức các vấn đề đặt ra thuộc lĩnh vực môi trường, tài nguyên và bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội; nghiên cứu này sẽ đề xuất một số giải pháp để đảm bảo vừa phát triển (kinh tế, xã hội) vừa bảo vệ được môi trường, hạn chế tối thiểu tác hại cho các thế hệ mai sau. Mục tiêu cụ thể của đề tài được xác định là: Từ việc nghiên cứu thực tế về hiện trạng môi trường và tình hình triển khai một số chương trình phát triển kinh tế - xã hội, đề xuất một số giải pháp phát triển bên vững ở vùng dân tộc và miền núi Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi triển khai nghiên cứu để tài này theo phương pháp dân tộc học kết hợp với việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của các khoa học kế cận. Cụ thể, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: © Phương pháp kế thừa: Kế thừa các công trình nghiên cứu, tài liệu điển đã về các nội dung liên quan đến đề tài đã công bố ở trong và ngoài nước; ở trung ương, địa phương; đặc biệt là kết quả nghiên cứu của một số đề tài do Uỷ ban Dân tộc và Miền núi đã thực biện hoặc chủ trì thực hiện trong thời gian qua.
© Phương pháp chuyên gia: - Đặt các chuyên gia viết báo cáo chuyên đề - Thuê các chuyên gia đọc phản biện báo cáo đề tài - Tổ chức toạ đàm để thu thập ý tưởng khoa học e_ Phương pháp hội thảo: - Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm ở cộng đồng dân cư hoặc cán bộ địa phương. -_ Tổ chức hội thảo quy mô hẹp. ©_ Phương pháp điền dã dân tộc học: Địa điểm điền đã: Chúng tôi đã chọn tỉnh Cao Bằng đại diện về phương diện vùng lãnh thổ để tiến hành thu thập thông tin thứ cấp vì 2 lý do sau: -_ Cao Bằng là một trong số các tỉnh vùng cao có nhiều xã thuộc diện chương trình 135 và thực hiện các chương trình mục tiêu đạt nhiều kết quả - _ Cao Bằng là tỉnh xuất cư lớn ở MNPB trong thời gian vừa qua chứng tỏ môi trường nơi đây đã bị cạn kiệt, không thể bao chứa nổi hết dân SỐ. Vài nét về tỉnh Cao Bằng Cao Bằng là một tỉnh miền núi, biên giới có diện tích tự nhiên là 6.690,7km, dân số 491.055 người, trong đó thành thị có 53.612 người, chiếm 11%, nông thôn có 437.443 người, chiếm 89%.
Tỉnh có II huyện, thị với tổng số 189 xã phường, trong đó, có 106 xã vùng 3 (xã ĐBKK), 60 xã vùng 2 và 2l xã vùng I. Là một tỉnh miền núi, biên giới, hiện nay, Cao Bằng có nền kinh tế - xã hội chưa phát triển, mức tăng trởng kinh tế thấp, thu nhập hộ gia đình vào loại thấp so với các tỉnh miền núi nói riêng và cả nước nói chung, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, cơ sở hạ tầng thấp kém, lạc hậu, giáo dục, y tế kém phát triển, có nơi xuống cấp nghiêm trọng, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, đặc biệt là 113 xã đặc biệt khó khăn. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt trong quá trình 10 năm thực hiện Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trởng về phát triển kinh tế - xã hội miền núi, đến nay, nền kinh tế của Cao Bằng đã có những bước tiến đáng kể về tăng trưởng kinh tế, đời sống vật chất và tinh thân của đồng bào các dân tộc dân được cải thiện, an ninh quốc phòng được đảm bảo, chính trị, xã hội luôn ổn định. Trước đây,Cao Bằng là một tỉnh nghèo và lạc hậu: Về sản xuất nông - lâm nghiệp: Việc sử dụng đất đai còn nhiều lãng phí, chưa khai thác hết tiềm năng đất, nhằm tạo ra nhiều sản phẩm tăng thu nhập và ổn định đời sống.
Nhìn chung, nhân dân chủ yếu tập trung sản xuất lương thực, hoa màu nhằm giải quyết nhu cầu tại chỗ, chưa thật sự chú ý phát triển các cây trồng có giá trị kinh tế cao, các loại giống mới. Công tác khuyến nông chưa được chú ý đúng mức nên năng suất các loại cây trồng chưa cao. Ví dụ như lúa chỉ đạt trên 20 tạ/ha, ngô trên 14 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực cả tỉnh đạt khoảng 130.000 tấn và lương thực bình quân đầu ngời chỉ đạt dới 200kg/người/năm.
Chăn nuôi tuy đã phát triển, nhưng chưa đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, chưa thực sự trở thành hàng hoá, tạo ra nguồn thu lớn cho các hộ gia đình. Công tác phòng chống dịch bệnh chưa được quan tâm, chưa ngăn chặn kịp thời các dịch bệnh lây lan gia súc. Việc giao đất, giao rừng chậm được thực hiện, đồi rừng hầu như chưa có chủ, công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng chưa được chú trọng, nạn phá rừng bừa bãi đang trở nên một thách thức lớn đối với sự tồn tại của nguồn tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. Việc trồng rừng có được triển khai, nhưng chưa chú ý đến việc chăm sóc, bảo vệ rừng mới trồng nên tỷ cây mọc rất thấp.
Về công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tỉnh Cao Bàng thời kỳ đổi mới chủ yếu được khôi phục lại sau chiến sự năm 1979. Thời kỳ này cả tỉnh có 13 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp thuộc các ngành công nghiệp: - Công nghiệp chế biến lâm sản: 01 doanh nghiệp (DN) - Công nghiệp chế biến nông sản - thực phẩm: 02 DN. - Công nghiệp cơ khí: 01 DN. - Công nghiệp may mặc, dầy đa: 02 DN.
- Công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: 02 DN. - Công nghiệp phân bón hoá chất: 01 DN. - Công nghiệp khác: 03 DN. Hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, đặc biệt là đường vận chuyển hàng hoá nguyên vật liệu chủ yếu là đường bộ, cước phí vận chuyển lớn, dẫn đến giá thành sản phẩm cao, thị trường tiêu thụ lại hạn hẹp; mặt khác trình độ quản lý ở các doanh nghiệp còn thấp kém nên hầu hết các đơn vị sản xuất công nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Trước thời kỳ đổi mới, các hoạt động của các đơn vị sản xuất công nghiệp trong cơ chế quan liêu, bao cấp thực hiện các chỉ tiêu đều do cấp trên giao và phân phối. Từ năm 1989, một số doanh nghiệp không hoạt động được do sản xuất bị thua lỗ kéo dài, mức thu nhập thấp, đời sống cán bộ công nhân viên chức không được đảm bảo, thậm chí không bố trí được việc làm cho ngời lao động, tích luỹ cho Nhà nước thấp. Các ngành TTCN còn hoạt động tự phát, các làng nghề truyền thống, các ngành sản xuất truyền thống không phát huy được, các hợp tác xã hoạt động cầm chừng, sản lượng sản phẩm ít. Về cơ sở hạ tầng: Trước thời kỳ đổi mới, số km đường rải nhựa và rải bê tông chiếm khoảng 5% tổng số, bình quân mật độ đường đạt 0,4%km” (trong khi đó, chỉ số này bình quân cả nước là: 1,7%/km?).
Đại đa số các tuyến đường đều xuống cấp nghiêm trọng, rất xấu và đi lại cực kỳ khó khăn, nhất là các tuyến từ tỉnh ly đến các huyện ly, hầu hết các tuyến từ huyện ly đến trung tâm xã chỉ là đường mòn dân sinh, ôtô chưa đến được trung tâm xã. Trước kia, lưới điện quốc gia chưa đến tỉnh Cao Bằng nên phải vận hành 1 nhà máy điện điêren để cấp điện sinh hoạt và sản xuất cho trung tâm thị xã và các máy phát điện điêren cho trung tâm các huyện ly. Ngoài ra còn có 1 số nhà máy thuỷ điện loại vừa và nhỏ ( công suất 30kw trở lên) phục vụ điện thắp sáng cho dân cư khu vực lân cận nhà máy và phục vụ sản xuất cho mỏ thiếc Tĩnh Túc, cho các trạm bơm phục vụ sản xuất nông nghiệp. Tỷ lệ hộ dùng điện khoảng 10%.
Cả tỉnh chỉ có một nhà máy cấp nước duy nhất ở trung tâm thị xã Cao Bằng có công suất 5000m /ngày đêm. Nhưng do hệ thống cấp nước không được xây dựng hoàn chỉnh nên hàng năm chỉ sản xuất và cấp nước sinh hoạt khoảng 700 ngàn mỶ cho gần 15.000 dân, chiếm 2,5% dân số. Toàn tỉnh có 37 bưu cục, gồm I bưu cục loại 1, 12 bưu cục loại 2, 24 bưu cục loại 3. Tỉnh đã tổ chức 9 đường thư từ tỉnh xuống huyện và 136 đường thư từ huyện xuống xã, có 6 xe ô tô phục vụ bưu chính phát hành báo chí.
Đến hết năm 1989 toàn tỉnh mới chỉ có 568 máy điện thoại, đạt gần bằng 0,01 máy/100 dân. Vào thời kỳ này hầu hết các xã, phương đều cha có máy điện thoại. Giáo dục - y tế - văn hoá: Trước thời kỳ đổi mới, nên giáo dục Cao Bằng tuy đã tương đối phát triển về số lượng, nhưng còn bất cập về nhiều mặt, cơ sở vật chất trường học còn nghèo nàn thiếu thốn, phòng học chủ yếu là nhà tạm, đồ dùng giảng dạy, sách giáo khoa chưa được trang bị đầy đủ, đội ngũ giáo viên vừa thiếu, vừa yếu, chất lượng các hoạt động văn hoá, đặc biệt là chất lượng mũi nhọn còn thấp, tý lệ huy động trẻ em trong độ tuổi tới trường chưa cao, tình trạng học sinh bỏ học còn khá phổ biến, số người mù chữ còn nhiều. Nói chung nền giáo dục tỉnh Cao Bằng ở vị trí thấp so với mặt bằng giáo dục của cả nớc.