Mở đầu cho những họat động lập pháp có ý nghĩa đối với việc bảo vệ môi trường là việc tạo ra một cơ sở pháp lý quan trọng tại Điều 13 Hiến pháp 1980: "Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải tạo môi trường sống" [42]. Từ quy định hiến định này, các nhà làm luật nước ta khi xây dựng Bộ luật Hình sự năm 1985 đã xây dựng một số tội danh liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường, trong đó có chứa đựng nội dung bảo vệ các động vật hoang dã, quý hiếm. Chính thức thực hiện việc bảo vệ môi trường bằng pháp luật hính sự. THỜI KÌ TỪ KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1985 ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 Trong Bộ luật Hình sự năm 1985, các tội danh liên quan đến lĩnh vực bảo vệ môi trường được quy định tại Chương VII "Các tội phạm về kinh tế" và Chương VIII "Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính" bao gồm các điều 180, 181, 195 và 216, trong đó Điều 181 "tội 14 z vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng" có chứa đựng nội dung bảo vệ bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ.
Có thể thấy Bộ luật Hình sự năm 1985 chưa thể hiện rõ tính cấp bách và tầm quan trọng đặc biệt của việc đấu tranh với các hành vi xâm hại môi trường nói chung và bảo vệ các động vật hoang dã nói riêng. Điều này không chỉ thể hiện qua việc Bộ luật Hình sự 1985 chưa dành riêng một Chương cho các tội phạm về môi trường, mà còn dễ dàng nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi trường được gộp lại với những tội phạm khác và được hiểu không phải với tư cách là những tội phạm về môi trường như Điều 181. Điều 181, Bộ luật Hình sự năm 1985 "Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng" quy định: 1. Người nào khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú hoặc có hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xứ lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm [38]. Nội dung điều luật gộp chung nhiều hành vi liên quan đến công tác quản lý và bảo vệ rừng, tuy nhiên cũng đã đề cập đến hành động săn bắt trái phép chim, thú, tuy nhiên dường như các nhà làm luật quan tâm đến vấn đề kinh tế nhiều hơn là quan tâm đến vấn đề bảo vệ sự tồn tại của các loài chim, thú hoang dã, bảo vệ tính đa dạng sinh học của rừng. Chính về vậy tội danh này được các nhà làm luật đặt trong chương VII, "các tội phạm về kinh tế". Mặt khác, các động vật ở đây được hiểu là các được hiểu là các loại chim muông, thú rừng nói chung chú không chỉ là các động vật nguy cấp, quý hiếm.
Nếu nhìn một cách "phiến diện" ta thấy dường như Điều 181, Bộ luật Hình sự năm 1985 quy định rất nghiêm khắc đối với hành vi săn bắn chim, 15 z thú rừng. Tuy nhiên thực chất không hoàn toàn như vậy. Việc quy định "rộng mà hẹp" như Bộ luật Hình sự năm 1985 khiến cho việc bảo vệ động vật hoang dã trên thực tế bằng luật hình sự gần như không được thực hiện. Chúng ta có thể thấy điều này qua phân tích dưới đây: - Hành vi khách quan liên quan đến việc bảo vệ động vật hoang dã của điều luật này là: hành vi săn, bắt chim muông, thú rừng không có giấy phép, không đúng quy định của nhà nước.
- Do tội có cấu thành vật chất nên phải có hậu quả nguy hiểm là làm mất giống chim, thú đang cần bảo vệ, gây ra mất cân bằng sinh thái. Nếu không chứng minh được hậu quả nghiêm trọng thì người có hành vi săn, bắt nói trên phải có dấu hiệu bắt buộc là "đã bị xử phạt hành chính" thì mới được coi là tội phạm. - Về hình phạt: Điều 181, Bộ luật Hình sự năm 1985 có khung hình phạt cao nhất đến 10 năm tù trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, Có lẽ các nhà làm luật hướng tới việc phá rừng gây hậu quả nghiêm trọng chứ không thực sự chú trọng đến các hành vi sắn, bắt chim, thú rừng trái phép. Cho đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999, trong thực tế việc xử lý tội phạm này chủ yếu là các hành vi liên quan đến phá rừng, khai thác gỗ trái phép và tỉ lệ áp dụng cũng không nhiều.
Chính vì vậy, qua 4 lần sửa đổi Bộ luật Hình sự mặc dù kỹ thuật lập pháp của Điều luật này chưa thực sự hoàn thiện nhưng vẫn không được sửa đổi lần nào. Nguyên nhân có thể vì trong thực tế ít áp dụng nên không thấy được sự bất cập và kết quả là không có nhu cầu sửa đổi. Điều này cũng không khó giải thích vì mục tiêu của các nhà làm luật là quan tâm đến hậu quả kinh tế của hành vi phạm tội, trong khi thế nào là "hậu quả nghiêm trọng", "đặc biệt nghiêm trọng" thì không có hướng dẫn cụ thể. Nếu vận dụng tương tự kết luận của Tòa án nhân dân tối cao đối với tội phạm về kinh tế khác là tương đương 5 tấn gạo là hậu quả nghiêm trọng thì với sự quản lý rừng lỏng lẻo trong giai đoạn này khó mà có 16 z thể phát hiện được các hành vi phạm tội đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Mặt khác, hậu quả của việc săn bắn chim, thú rừng trái phép là hậu quả vô hình, hậu quả cho tương lai. Vì vậy, nếu lấy thước đo kinh tế để xác định hành vi nào bị coi là phạm tội thì khó có thể xử lý nổi một hành vi săn, bắt chim thú rừng trai phép nào. Tuy nhiên, việc Bộ luật Hình sự năm 1985 xuất hiện quy định về bảo vệ động vật hoang dã là tiền đề cho việc quy định mộ danh riêng về bảo vệ động vật hoang dã, , quý, hiếm trong Bộ luật Hình sự năm 1999. TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT THUỘC DANH MỤC LOÀI NGUY CẤP, QUÝ HIẾM ĐƯỢC ƯU TIÊN BẢO VỆ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 1.
Bối cảnh và quan điểm lập pháp Nối tiếp quan điểm của Hiến pháp 1980 về bảo vệ môi trường, Hiến pháp 1992 tiếp tục quy định: "Các cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi công dân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống. Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy kiệt tài nguyên và hủy hoại môi trường" [42]. Đến thời điểm này, nhận thức của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường đã trở nên sâu sắc hơn. Vì vậy, nhiều chính sách về bảo vệ môi trường đã được Đảng và Nhà nước ban hành nhằm nâng cao hơn một bước công tác bảo vệ môi trường.
Tiêu biểu như ngày 25/6/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 36/CT-TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại"; Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993; Luật Bảo vệ phát triển rừng năm 1991; Pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Nghị định số 18/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về việc ban hành danh mục động vật, thực vật rừng quý hiếm… Ngay trong Tờ trình Quốc hội về dự án Bộ luật Hình sự (sửa đổi) của Chính phủ số 1218/CP-PC 17 z ngày 19/10/1998, một trong những quan điểm được quán triệt trong quá trình soạn thảo Bộ luật là "Bảo vệ môi trường sinh thái". Những quan điểm chỉ đạo nêu trên của Đảng và Nhà nước ta đã trở thành định hướng quan trọng cho việc xây dựng các quy định về các tội phạm về môi trường trong Bộ luật Hình sự 1999. Nhà nước ta đã khẳng định một trong những nhiệm vụ của Bộ luật Hình sự là: "đảm bảo cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh và mang tính nhân văn cao". Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng đã được cá thể hóa bằng 10 tội danh cụ thể và cấu tạo thành hẳn một Chương mới - Chương XVII "Các tội phạm về môi trường", từ Điều 182 đến Điều 191.
Đây là một bước tiến, đánh dấu một mốc quan trọng trong việc bảo vệ môi trường bằng pháp luật hình sự ở nước ta. Đối với việc bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm, nguy cấp, mốc quan trọng đánh dấu sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước với vấn đề này là ngày 15/1/1994, Việt Nam đã chính thức là thành viên thứ 121 tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora) viết tắt là Công ước CITES. Để thực thi Công ước CITES về bảo vệ động vật hoang dã trên thực tế, ngày 29/5/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 359/TTg về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã, trong đó xác định "bảo vệ đa sinh học và môi trường sinh thái, từng bước lập lại trật tự kỷ cương trong việc bảo vệ và phát triển động vật hoang dã, đặc biệt là những loài động vật quý hiếm ", đồng thời yêu cầu " mọi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật, từ xử phạt hành chính đến truy cứu trách nhiệm hình sự". Đây chính là các cơ sở pháp lý để trong lần pháp điển hóa quan trọng này các nhà làm luật nước ta xây dựng quy định về Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm tại Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 1999.