Chương 1. Tổng quan về tộc người Mường và truyện thơ trữ tình Mường. Đặc điểm nội dung của truyện thơ trữ tình Mường. Đặc điểm nghệ thuật của truyện thơ trữ tình Mường.
Ngoài ra còn có Thư mục tham khảo và 4 phần phụ lục sau: Phụ lục 1. Bảng tổng hợp các môtip xuất hiện trong truyện thơ trữ tình Mường. Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp nghệ thuật so sánh trong truyện thơ trữ tình Mường. Bảng thống kê tần số xuất hiện của biện pháp điệp ngữ trong truyện thơ trữ tình Mường.
Một số đoạn thơ tiêu biểu của truyện thơ trữ tình Mường. TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI MƯỜNG VÀ TRUYỆN THƠ TRỮ TÌNH MƯỜNG Mục đích của chương này là phác qua một cái nhìn tổng quát về người Mường ở Việt Nam và bộ phận TTTT Mường trong đó có bốn truyện thơ mà luận văn chọn làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp.Vài nét về tộc người Mường: 1. Quá trình hình thành dân tộc Mường. Huyền thoại khởi nguyên luận của người Việt Nam là truyền thuyết “Con Rồng - cháu Tiên”, “Con Lạc cháu Hồng” được ghi lại lần đầu tiên thành truyện họ Hồng Bàng trong sách “Lĩnh Nam chích quái”.
Theo huyền thoại này: Mẹ Tiên Âu (Âu Cơ) là tiên trên núi xuống đã kết duyên với Bố Rồng Lạc (Lạc Long Quân) từ dưới biển lên, sinh trăm trứng, nở trăm con trai. Sau chia đôi, năm mươi con theo mẹ lên núi và tôn người con trai trưởng len làm vua (Vua Hùng), lập ra nước Văn Lang - quốc gia cổ đại sơ khai của Việt Nam. Còn năm mươi người con trai khác theo cha xuống lap nghiệp ở vùng sông biển. NÚI - BIỂN; MẸ - BỐ tạo nên một quốc gia Văn Lang thịnh vượng.
Huyền thoại của người Mường thì nói rằng nàng Hưu Cơ (Âu Cơ) kết duyên với chàng Cá (Long Vương) sinh ra một trăm con, sau năm mươi con theo mẹ lên núi sinh ra dòng vua áo Chàm (người Mường), năm mươi con theo cha xuống biển sinh ra dòng vua áo vàng (người Kinh). Giáo sư tiến sĩ Mỹ Keith Weller Taylor trong tác phẩm nổi tiếng “Sự sinh thành của Việt Nam” đã bình luận về huyền thoại khởi nguyên này về phương diện nhà nước pháp quyền như sau: Cái ý tưởng về một vị thần linh từ NƯỚC (BIỂN) lên xây dựng nguồn cội cho một quyền lực chính trị và pháp quyền, tham dự vào việc hình thành cư dân Việt Nam từ thời tiền sử, là một ám thị sớm nhất về một quan niệm rằng: Người Việt Nam là một nhân dân riêng biệt và tự ý thức. Ý tưởng đó được tạo hình ở nghệ thuật Đông Sơn, trên trống đồng với chim biển và các loài thủy tộc bao quanh các con thuyền chuyên chở chiến sĩ [103]. Dân tộc Mường cư trú trên một địa bàn rộng suốt từ phía Tây Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phú, Sơn La, Hòa Bình, Hà Nam Ninh vào đến tận phía Tây Thanh Hóa và Nghệ An.
Căn cứ vào nhiều ngành khoa học, người Mường và người Kinh vốn là anh em cùng một ông tổ trực tiếp, là người Lạc Việt thời Hùng Vương. Đồng bào Mường có cuộc sống của một cư dân nông nghiệp vùng bán sơn địa. Đó là cuộc sống ổn định, quy củ, không được thiên nhiên ưu đãi như vùng đồng bào Thái nhưng cũng không quá gay go như vùng đồng bào Kinh “đất chật người đông”. Đồng bào Mường có lối sống giản dị, thiết thực, ưa thích những biểu hiện rõ ràng, chất phác.
Những nét đặc trưng ấy được thể hiện ngay trong phong cách âm nhạc Mường, được GS. Tô Ngọc Thanh nhận xét: “Giản dị mà không đơn sơ, thiết thực nhưng không thực dụng, rõ ràng khúc chiết nhưng không thô thiển, chất phác mà không nông cạn”[83]. Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ vào các tài liệu khoa học khác nhau đã đi đến nhận định: Người Việt và người Mường vốn có chung một nguồn gốc. Về nhân chủng, hai nhóm Việt - Mường cùng chung những đặc điểm nhân chủng trong nhóm Nam Á thuộc tiểu chủng Môngôlôit Phương Nam.
Tuy vấn đề về nguồn gốc người Việt - Mường hiện nay còn tiếp tục nghiên cứu, song hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng: Họ là những cư dân bản địa, tổ tiên người Việt Mường là người Lạc Việt, chủ nhân của văn hóa Đông Sơn nổi tiếng. Do đó có cơ sở để cho rằng vào thời các vua Hùng hoặc vào thời đại đồng thau, và cả giai đoạn tiếp theo, Việt - Mường còn là một khối thống nhất. Căn cứ theo các tài liệu ngôn ngữ, lịch sử thì từ thế kỷ VIII trở về trước hai dân tộc Việt - Mường có một tiếng nói chung. Vào đầu thế kỷ X, khi kinh đô chuyển từ trung tâm Mường là Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010) thì lúc ấy tiếng Việt mới tách khỏi tiếng Mường thành hai ngôn ngữ riêng.
Trước đó, người Việt và người Mường có ngôn ngữ chung với hai phương ngữ: phương ngữ Kinh ở đồng bằng sông Hồng và phương ngữ Mường ở vùng gần chân núi phía Tây - Tây Bắc sông Hồng. Người Mường tự gọi tộc danh của mình là Mol, Mon, Moan, Mual (nghĩa là người). Còn tên tộc danh Mường là về sau này, khi đồng bào canh tác ruộng lúa nước, mỗi đơn vị cư trú làm hệ thống mương dẫn nước tưới tiêu. Từ hệ thống mương dẫn nước dần dần thành đơn vị hành chính cư trú.
Mường trở thành tộc danh của một dân tộc ít người ở Việt Nam. Người Việt - người Mường vốn cùng chung một goc, gọi chung là nhóm Việt - Mường, chỉ mới tách ra thành hai tộc người khác nhau từ những thế kỷ đầu công nguyên. Trong khi bộ phận người Việt xuống vùng đồng bằng và ven biển thì bộ phận người Mường ở lại các vùng thung lũng và chân các dãy núi Tây Nam Bắc bộ và Bắc Trung bộ vừa làm ruộng nước vừa làm ruộng nương. Theo số liệu điều tra dân số công bố năm 2001 của Tổng cục Thống kê thì dân tộc Mường có 1.515 người cư trú ở các tỉnh Hòa Bình, Phú Thọ, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Thanh Hóa, Ninh Bình.
Nhưng tập trung đông nhất ở tỉnh Hòa Bình, nơi có bốn vựa thóc lớn, bốn vùng tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, xã hội của người Mường được ghi trong câu tục ngữ cổ: “Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động” (1) 1. Về kinh tế - xã hội - văn hóa. Kinh tế Người Mường làm ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư. Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và lúa là cây lương thực chủ yếu.
Người Mường trồng lúa khá nhiều trên ruộng bậc thang.Trong công việc đồng áng, có thể nói người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lơi nhỏ. Đồng bào làm mương, phai để lấy nước. Nhiều nơi thuộc tỉnh Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình còn dùng xe cọn để đưa nước vào ruộng. Cọn có thể đưa nước lên cao năm, sáu mét.
Nhìn chung, hệ thống thủy lợi rất đơn giản nhưng có hiệu quả cho trồng trọt. Cuisinier nhận xét: “Các phương pháp dẫn nước tưới ruộng Mường nếu như không phải là những phương pháp cải tiến, thì cũng đáp ứng đòi hỏi của ngành trồng trọt” [5, tr. ----------------------(1) Đó là mường Bi, mường Vang, mường Thàng, mường Động: bốn vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh Hòa Bình. Người Mường chăn nuôi trâu bò chủ yếu lấy sức kéo trong nông nghiệp, trong nghề rừng và để lấy phân bón ruộng.
Trâu được nuôi nhiều hơn bò và được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin để trao đổi hay bán cho miền xuôi. Săn bắn là một hoạt động trong đời sống của người Mường. Săn bắn kết hợp với sản xuất để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng. Săn bắn không những là một nguồn lợi cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui.
Đánh cá là một nghề phụ trong gia đình và tương đối phát triển ở những khu vực ven các con sông và suối lớn. Các công cụ đánh cá khá đa dạng: chài, lưới, vó, đơm, đó, đăng… J. Cuisinier nhận xét về nghề đánh cá và săn bắn: “Nghề đánh cá, tuy không có giá trị to lớn đối với người Mường, song lại đem đến cho họ nguồn lợi thu hoạch ổn định hơn nghề đi săn” [5, tr. 176] Người Mường hái lượm theo mùa.
Mỗi mùa có những loại rau khác nhau. Theo thống kê, về mùa xuân thường có trên 60 loại rau, mùa hè trên 40 loại, mùa thu trên 20 loại và mùa đông khoảng 10 loại. Họ nắm vững chu kỳ sinh trưởng và phát triển của từng loại cây trong rừng: “Tháng sáu gặp nhau ở hố củ mài” “Tháng chín dâu da đều chín” Nghề thủ công trồng bông, kéo sợi, nhuộm sợi, dệt vải đặc biệt phát triển ở người Mường. Các mặt hàng thổ cẩm, mặt gối, mặt chăn, cạp váy của người Mường rất nổi tiếng.
Đặc trưng cơ bản trong nền kinh tế của người Mường: Trong lĩnh vực nông nghiệp, cây lúa giữ vai trò chủ đạo, chăn nuôi là nghề phụ nhưng có mối quan hệ khăng khít với trồng trọt, quy mô chăn nuôi tùy thuộc vào hoàn cảnh của từng gia đình. Hoạt động thủ công nghiệp đóng khung trong phạm vi gia đình. Hái lượm và đánh cá vẫn đóng vai trò đáng kể trong đời sống kinh tế, trong khi đó vai trò săn bắt giảm đi nhiều. Toàn bộ đời sống kinh tế của người Mường đến nay chủ yếu vẫn dựa vào thiên nhiên, mang tính tự cung tự cấp.
Thiết chế xóm, mường: Trước cách mạng tháng Tám 1945, xã hội người Mường nằm trong khuôn khổ một xã hội có đẳng cấp. Quý tộc gọi là lang, bình dân gọi là dân. Thiết chế xã hội trong xã hội cổ truyền của người Mường là xóm và mường. Ở đó hình thành bộ máy quản lý, điều hành theo luật tục, mọi thành viên trong cộng đồng xóm, mường phải tuân thủ tuyệt đối.
Sự phân tầng xã hội Mường cũ của Nguyễn Duy Thiệu được thể hiện ở bảng 1. Sự phân tầng xã hội trong thể chế xã hội Mường [88]. Quý tộc: Lang Bình dân: “Jân” Tầng lớp gia nô: Tầng lớp bán tự cun, Lang đạo (những người “Mọi Bi” do: “Tứa rọong” được nhận ruộng (chỉ canh tác công) nương rẫy) Nơi cư trú của người Mường được gọi bằng Quêl hoặc xóm, có nghĩa là làng. Làng là cơ sở của xã hội Mường gồm nhiều tiểu gia đình phụ quyền mà tế bào gia đình là cha mẹ và con cái, trong đó quyền thế tập thuộc về con trưởng.
Khu vực đất đai thiên nhiên được xác lập bền vững được các thành viên của làng biết rõ và các thành viên của làng khác tôn trọng. Trong chế độ lang đạo, tính chất đẳng cấp được bộc lộ rõ rệt.